Truyền chức thánh, nhờ Đức Kitô

Thánh lễ truyền chức phó tế hôm nay để lại cho tôi nhiều cảm nhận thật xúc động. Ngay từ giây phút đầu tiên, lời kinh “Xin Chúa thương xót chúng con” đưa tôi vào tâm tình xin ơn tha thứ. Tôi là một người tội lỗi, một người đầy thiếu xót, mà đang khoác trên mình chức tư tế của Chúa, và giờ đây bắt đầu cử hành thánh lễ của chính Chúa Giêsu…”Xin Chúa Kitô thương xót chúng con”. Lời kinh này đi vào tâm hồn, động chạm sâu vào thân phận của tôi.

Tâm tình này càng bị lay động hơn khi tôi nghe Lời Chúa trong bài đọc 1, trích trong sách Dân Số, 3,5-10. Trong giao ước cũ, chỉ những người thuộc gia tộc Lê-vi mới được tuyển chọn vào chức vụ phục vụ trong đền thờ, và làm tư tế. Người ngoại tiến vào làm viêc tế tự sẽ phải chết (Ds 3,10). Tôi giật mình. Tôi không phải thuộc chi tộc Lê-vi, tôi là người ngoại.

Sau các bài đọc, đến phần tuyển chọn ứng viên. Sau khi giới thiệu ứng viên lên chức Phó tế, và sự xác nhận các thầy đủ điều kiện để tiến chức, Đức Giám mục nói “nhờ hồng ân Thiên Chúa và nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, chúng tôi tuyển chọn những anh em này lên chức Phó tế”. Tôi thực sự xúc động.

Chính nhờ hồng ân Thiên Chúa, và nhờ Đức Giêsu Kitô mà tôi, một người ngoại, cung như bao người khác, được tuyển chọn vào hàng tư tế của Chúa. Cảm nhận này đưa tôi đến gần Chúa Giê su hơn, vì chức thánh tôi đã lãnh nhận là do chính Ngài, và để tôi tiếp tục thi hành chức vụ của Ngài nơi trần gian. Tôi được mời gọi trở nên hiện thân của Ngài cho anh em tôi.

Thánh Lễ được tiếp tục, và tôi lắng nghe được nhiều điều từ bài giảng của Đức Cha Giuse Nguyễn Năng. Ngài đi sâu vào phân tích chức vụ phó tế với lối sống khiêm nhường, trong sạch và cầu nguyện. Đó là những điều kiện và thái độ cần thiết để cho một phó tế có thể thi hành tác vụ phục vụ của mình. Ngài còn nhấn mạnh tới thừa tác phục vụ của phó tế không phải chỉ trong thời gian làm phó tế chuyển tiếp mà thôi, nhưng phải là căn tính của người môn đệ Chúa Kitô, cho dù người ấy sẽ là linh mục hay giám mục. Chúc mừng phó tế phải đi tới tâm tình chúc mừng vì người anh em chúng ta được tuyển chọn vào chức vụ đầy tớ. Đó mới là tinh thần của đạo.

Kế đến, Đức cha cũng nhắn nhủ các gia đình, rằng gia đình là nơi vun trồng ơn gọi. Để có các linh mục trong tương lại, gia đình cần trở nên đạo đức và thánh thiện. Gia đình phải là tổ ấm của yêu thương và là mái nhà cầu nguyện.

Tất cả là hồng ân Chúa. Những con người yếu đuối mỏng giòn được chọn gọi lên chức tư tế của Chúa để dâng lễ tế cho Chúa và để cầu cho toàn dân. Chức vụ này xưa kia chỉ được dành cho một chi tộc Lê-vi, ngày nay được trao ban cho nhiều người, thuộc nhiều chi tộc, nhiều quốc gia. Đó là ơn phúc mà Chúa dành cho con người mỏng hèn của tôi.

Thánh lễ truyền chức hôm nay nhắc nhở tôi đến hồng ân tôi đã lãnh nhận, cũng như ý nghĩa của đời sống của tôi. Chỉ gắn liền với Chúa Giê su Ki tô, đời linh mục của tôi mới thực sự cho tha nhân được. Chỉ gắn liền với Chúa, đời tôi mới có thể vượt qua được những cám dỗ, những hướng chiều về trần thế. Xin Chúa tiếp tục thắp lên trong con ngọn lửa yêu mến Chúa và yêu mến con người khi thi hành chức vụ Linh mục mà Chúa đã trao cho con, vì yêu thương con.

Lm Giuse Trịnh Duy Suýt S.J

Ánh sáng và mù lòa

Câu chuyện liên quan tới việc Đức Giê su chữa cho người mù bẩm sinh được thánh sử Gioan kể lại chương 9,1-41. Đứng trước người mù này, nhiều câu hỏi được đặt ra.

Nguyên nhân của bệnh mù: do anh ta hay do tội của cha mẹ?

Đức Giêsu không quy kết trách nhiệm thuộc về ai, nhưng Ngài nhìn nhận “để công việc của Thiên Chúa tỏ ra nơi anh” (c.3). Tình trạng của người mù này cũng có thể là thảm trạng khiếm khuyết nơi cuộc đời của con người. Người ta vẫn thường nói “nhân vô thập toàn”. Cái khiếm khuyết ấy không phải là nơi của chê bai, của so bì, nhưng lại là nơi để khám phá ra hành động của Thiên Chúa, nơi con người có thể để cho Thiên Chúa đi vào cuộc đời mình.

Truy tìm nguyên nhân của khiếm khuyết bằng việc đổ lỗi cho người khác là một tình trạng vẫn thường thấy. Tuy nhiên, kiểu hành xử này không những không chữa được khiếm khuyết, mà lại làm cho nó đau hơn. Không chấp nhận khiếm khuyết, thì khiếm khuyết vẫn còn đó.

Khám phá ra khiếm khuyết nơi cuộc đời mình và đón nhận nó đã là một dấu chỉ của sự chữa lành. Nhìn nhận khiếm khuyết và khám phá xem Chúa muốn gì nơi cuộc đời mình, thì khiếm khuyết lại trở nên một dấu chỉ của hồng ân, của sự hoán cải, và đưa ta vào sống tương giao đích thực với Chúa.

Ai là người đã chữa anh?

Anh ta được chữa lành khi anh được thoa bùn trên mắt và đi rửa tại hồ Si-lô-ác. Việc chữa lành xảy ra vào ngày sabat, tức ngày nghỉ. Người Do thái tôn trọng luật đến mức không dám cứu người vào ngày sabat, trong khi đó, luật ngày sabat đưa tới tương quan tới Đấng ban sự sống, tức phải đưa tới sự sống.

Rửa tại hồ Siloac, từ này có nghĩa là người được sai phái. Điều này thật là ý nghĩa, bởi vì chính Đức Giêsu là Đấng Messia, tức Đấng Thiên Sai. Ngài là ánh sáng cho trần gian. Đến với ánh sáng của Chúa Giêsu, Đấng Thiên Chúa sai đến, chúng ta sẽ được chữa lành, được sáng mắt, sáng tâm hồn. Khiếm khuyết của chúng ta sẽ không còn là một đau khổ. Chúng ta sẽ được chữa lành từ chính ánh sáng của Chúa.

Người mù từ thủa mới sinh xác tín rằng người chữa cho anh, phải là người đến từ Thiên Chúa, chứ không thể là kẻ tội lỗi (c.31). Chính niềm tin này đưa anh tới ánh sáng thật. Trong khi đó, các nhà lãnh đạo Do thái dừng lại ở việc xét đoán theo hành động bề ngoài, nên không khám phá ra dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa.

Sáng mặt thật và mù thât

Kết thúc câu chuyện gây ra một sự đảo lộn hoàn toàn. Người mù từ thủa mới sinh, người mà bị các nhà lãnh đạo coi là “sinh ra trong tội” (c.34) lại là người có ánh sáng thật, vì anh đã đón nhận ánh sáng của Chúa. Các nhà lãnh đạo, được coi là môn đệ của Môsê (c.29), tức là những người nắm giữ và tinh thông lề luật, lại trở nên những người mù lòa, vì họ cố chấp, họ coi họ đã sáng rồi (c.41).

Có một sự khác biệt lớn giữa ánh sáng của thân xác và ánh sáng của tâm hồn. Nhiều khi ánh sáng của thân xác có thể gây nên tình trạng mù lòa tâm hồn, vì sự cứng nhắc của nó. Ánh sáng của thân xác làm cho người ta tin vào chính mình, tin tới mức chỉ còn mình mới đúng. Thái độ tự kiêu ấy dẫn tới cứng lòng, và mù lòa tâm hồn.

Người mù thân xác lại được ban cho giác quan nhậy bén. Họ có thể nhìn thấy thế giới xung quanh theo cảm quan hoàn toàn khác mà người sáng mắt không cảm được. Hơn nữa, nếu người ấy đón nhận ánh sáng của Chúa, tức là nhìn nhận cuộc đời theo con mắt đức tin, thì cặp mắt tâm hồn họ sẽ hoàn toàn trở nên sáng.

Mù lòa hay sáng mắt tùy thuộc rất nhiều vào trạng thái tâm hồn ta. Điều chắc chắn là nếu ta chỉ dừng lại ở những suy nghĩ riêng, hiểu biết riêng của mình, và coi đó là đúng đắn nhất, thì chính lúc đó, nguy cơ mù lòa đang xâm chiếm hồn ta. Chỉ có Chúa Giêsu mới là ánh sáng đích thực cho thế gian. Mở lòng ra đón nhận Ngài vào cuộc đời mình, chúng ta sẽ được chữa lành khỏi tăm tối và bước đi trong ánh sáng đích thực.

Lm Giuse Trịnh Duy Suýt S.J.

 

Trời với đất, một cuộc tình!

Tín nghĩa ân tình nay hội ngộ,

Hòa bình công lý đã giao duyên (Tv 85,11)

Lễ Truyền tin – Sứ thần Gabriel đến với Đức Maria truyền tin Lời Thiên Chúa nhập thể làm người và ở cùng nhân loại. Sáng kiến tình yêu của Thiên Chúa cần một tiếng xin vâng, một lời đồng ý của Đức Maria.

Tình trao ban, tình lãnh nhận.

Tình đỡ nâng, tình giải thoát

Tình phó thác, tình bay cao

Ôi tình Chúa trong tình người!

Niềm tin vào Thiên Chúa nhập thể

Tín hữu Chúa Kitô tin vào một Thiên Chúa yêu thương nhân loại. Ngài không những tạo dựng vũ trụ này và ban cho con người được sống trong đó, mà còn cứu chuộc con người khỏi tội lỗi, khỏi quyền lực của sự chết.

Để thực hiện công trình yêu thương này, Thiên Chúa đã đi vào trần gian. Ngài đã chọn một người nữ bình thường, tên là Maria. Với sự đồng ý của Maria, Thiên Chúa đã nhập thể nơi cung lòng của chị, và đã được sinh hạ nơi hang đá Bê lem xưa, để trở thành Đấng ở cùng nhân loại – Emmanuel, Đấng dẫn đưa nhân loại tới sự sống đời đời. Đấng ấy được mang danh hiệu là Giêsu, nghĩa là Thiên Chúa cứu độ.

Với niềm tin này, chúng ta ra khỏi hành trình tự nhiên là con người đi tìm Thiên Chúa, con người đi tìm sự bất tử. Trái lại, Thiên Chúa đã đi tìm con người, và sự bất tử được trao ban cho con người.

Tình yêu đáp trả tình yêu

Trước ân sủng lớn lao của Thiên Chúa, Maria đã thưa tiếng xin vâng, và trở thành Mẹ của Thiên Chúa nhập thể. Maria đã đáp trả tình yêu ấy không chỉ bằng một lời nói, nhưng bằng chính cả cuộc đời. Chính từ khi thưa tiếng xin vâng ấy, cuộc đời của Mẹ đã hoàn toàn thuộc về Chúa. Mẹ không còn sống theo một chương trình riêng nữa, mà hằng lắng nghe Chúa, chiêm ngắm trẻ Giêsu là hiện thân của Chúa, và luôn để cho Lời của Chúa âm vang trong lòng. Mẹ luôn lắng nghe, suy niệm trong lòng, và vâng nghe theo.

Cuộc đời của Mẹ Maria đã trải qua bao biến cố khổ đau, và cũng không hiểu nổi tại sao như vậy. Kinh Thánh kể nhiều chuyện về hành trình này: Biến cố đầu tiên là thách đố trong tương quan với vị hôn phu của mình là Giuse. Giuse đã trằn trọc về cách thức đối xử với Maria, khi Mẹ chưa về chung sống mà đã mang thai. Biến cố đó qua đi nhờ sự can thiệp của sứ thần với Giuse. Sau đó, lúc gần tới ngày sinh, Mẹ lại phải lên đường về quê của Giuse để khai tên tuổi. Tại đây Mẹ đã sinh con nơi hang đá, chỗ trú ngụ cho đàn gia súc. Rồi lúc lạc con tạ Đền thờ…, đau khổ nhất có lẽ là lúc con Mẹ bước vào hành trình thương khó và chết trên thấp giá. Trong tất cả mọi sự, Mẹ luôn thưa tiếng xin vâng.

Đáp lại tình yêu của Chúa, cuộc đời của Mẹ Maria trở thành nguồn suối thông truyền ơn Chúa cho nhân loại. Dọc theo lịch sử của Kitô giáo, vị trí của Mẹ Maria luôn được đề cao. Nhiều người đã chạy đến với Mẹ để cầu xin, và họ được bao ơn lành. Ơn chữa lành phần xác, ơn thiêng liêng cho tâm hồn. Ơn lớn lao nhất là qua Mẹ Maria, chúng ta đến được với Chúa Giêsu, đến được với chính Thiên Chúa.

Đón nhận tình yêu Chúa vào cuộc đời tôi

Thiên Chúa đã yêu thương cả nhân loại. Ngài đã chọn một con người là Mẹ Maria thể thực thi công trình yêu thương này. Tất cả chúng ta đều được hưởng tình yêu của Chúa, tình mẫu tử của Mẹ Maria.

Như Maria, chúng ta mở lòng đón nhận ơn Chúa trong cuộc đời mình. Ơn Chúa không làm chúng ta có được cái danh, cái lợi có tính trần thế. Nhưng ơn Chúa đã đưa chúng ta tới sự sống đích thực, tới sự sống đời đời. Nhưng hành trình đi tới đích này cần trải qua nhiều thử thách. Thử thách đi ngược dòng đời, vì cái chúng ta tìm kiếm không dừng lại trong cuộc đời. Hướng tới một đích nhắm khác với đa số sống quanh ta, người tín hữu gặp rất nhiều thử thách. Nhiều khi họ bị cám dỗ bỏ cuộc, hoặc niềm tin vào đích đó không đủ mạnh, nên họ muốn dừng lại ở hạnh phúc và lợi lộc trần thế. Nếu không xác tín rõ đích nhắm, người tin lại càng rơi vào thử thách và đau khổ hơn.

Maria đã đi tới đích và trờ thành nguồn ơn cho nhân loại. Người tín hữu luôn được ơn Chúa giúp trong hành trình sống niềm tin, và một khi sống niềm tin một cách cụ thể và triệt để, đời sống của họ cũng trở nên nguồn ơn, sức sống cho người sống chung quanh.

Bước vào hành trình sống niềm tin là mở lòng đón nhận tình yêu Chúa, cũng là lúc đáp lại tình yêu đó mạnh mẽ nhất. Hành trình này sẽ giúp chúng ta cảm nghiệm được hạnh phúc đích thực ngay trong giây phút hiện tại này.

Chúng ta cùng cầu xin Chúa, qua cuộc đời và mẫu gương của Mẹ Maria, cho chúng ta được nên trọn vẹn trong hành trình yêu thương này.

Giuse Trịnh Duy Suýt SJ

Công chính nhờ lòng tin

Mừng lễ thánh Giuse – Bạn trăm năm của Đức Maria

Có nhiều sách viết về Giuse. Nhiều người và nhiều nơi nhận Ngài làm vị thánh bảo trợ. Giuse được nhiều người biết đến. Nhưng Kinh thánh không đề cập tới một lời nói nào của thánh nhân, và chỉ dùng một từ quan trọng để nói về Ngài: Giuse là người công chính.

Công chính là một phẩm giá cao cả của con người. Là một người ngay chính, chính trực, công minh; một người nói sao làm vậy, một người tin thế nào thì sống thế ấy. Phẩm chất cao cả thế mà ngày nay chúng ta rất ít nghe tới, hoặc chẳng mấy ai dám hướng tới. Có thể vì nó quá khó, nhưng cũng có thể chúng ta chẳng mấy quan tâm, nên đời sống của con người ngày nay dừng lại ở một mức độ tầm thường, hoặc chỉ còn mang khía cạnh vật chất, cơm áo gạo tiền.

Cuộc đời của Giuse được mô tả qua mấy đoạn kinh thánh, liên quan tới Mẹ Maria và Ngôi Lời nhập thể mà thôi. Chúng ta được biết đến ngài là một người thuộc dòng dõi vua Đavít, nhưng lại rất nghèo nàn, sống xa quê cha đất tổ, và làm nghề thợ mộc. Ngài ước mơ lập gia đình và đã đính hôn với Maria. Đơn giản chỉ thế thôi.

Câu chuyện thêm ngoạn mục khi vị hôn thê của mình có thai trước khi hai người về chung sống với nhau. Kinh thánh trình bày việc thụ thai của Maria là do quyền năng của Chúa Thánh Thần, và thai nhi đó là Con Thiên Chúa, Đấng đến nhập thể trong cung lòng của Maria để trở thành Đấng Cứu Thế. Giuse phải đối diện với tình trạng này và rất đau khổ. Ông đã tính tới chuyện bỏ Maria cách kín đáo, vì không muốn tố giác bà. Lý do là nếu Giuse tố giác chuyện này thì Maria phải chịu hình thức ném đá cho tới chết. Vì yêu Maria nên ông không thể làm được. Nhưng ông cũng không chấp nhận người vợ chưa cưới mà mang thai như vậy, mà lại không phải là kết quả của ông.

Chính trong lúc dằn vặt đau khổ ấy, ông đã nhận được lời báo mộng của thiên thần và khuyên ông nên đón Maria về làm vợ, bởi vì người con đó là Con Thiên Chúa. Giuse tỉnh dậy và làm theo lời truyền đó. Đó là thái độ của người tin. Vì tin vào Chúa, mà ông đón nhận mọi điều Chúa truyền, cho dù ông chưa hiểu. Vì tin mà ông mau mắn thi hành Lời Chúa, dù Lời ấy làm ông tan nát cõi lòng riêng, làm xáo trộn cuộc đời ông. Với bất cứ giá nào, Giuse vẫn đón nhận Lời Chúa, vì ông đặt hết niềm tin vào Chúa. Đó là phẩm chất của người công chính.

Sau biến cố đó, Kinh thánh kể thêm chuyện ông đưa Maria sắp đến ngày sinh về nơi quê quán là thành Bê lem, để khai tên tuổi, tại đó, Maria đã sinh con trong cảnh khó khăn hết sức. Chuyện ông được thiên thần báo mộng phải đem mẹ và hài nhi mới sinh chạy sang Ai Cập để tránh sự bách hại của vua Hê rô đê; chuyện ông được báo mộng đưa con trở về và định cư ở Nadarét. Rồi chuyện khi Giêsu được 12 tuổi và cả nhà lên đền thờ dự lễ, và hai ông bà đã lạc mất con. Trong tất cả các câu chuyện ấy, Giuse luôn thinh lặng, và hành động một cách tận tụy.

Giuse thinh lặng vì ông hiểu rằng đời ông đã hoàn toàn sang trang: ông được sống cùng Con Thiên Chúa, và trước người Con này, thì ông hoàn toàn thinh lặng để chiêm ngắm và ông thân thiết cũng như hết mình phục vụ. Chính việc chiêm ngắm và kết hợp ấy đã giúp ông có sức mạnh, có niềm vui để không bao giờ bỏ mất cơ hội phục vụ. Ông hoàn toàn tin tưởng và được nên công chính.

Sự thinh lặng của Giuse có thể giúp chúng ta chiêm ngắm sự thinh lặng của Thiên Chúa. Tất cả đã được nói hết trong Người Con duy nhất là Đức Giêsu. Ngài là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Ngài chính là sự Khôn Ngoan của chính Thiên Chúa. Chúa Cha lặng thinh để cho Con Ngài lên tiếng. Giuse lặng thinh để lắng nghe Thiên Chúa qua người Con này.

Mừng lễ thánh Giuse, chúng ta suy niệm tới cuộc đời của ngài, một người công chính. Chúng ta được mời gọi học hỏi nơi ngài về cách sống đức tin mạnh mẽ, hoàn toàn để niềm tin chi phối đời sống của chúng ta, dù đời ta sẽ phải xáo trộn về niềm tin ấy. Để có được sức mạnh sống đức tin áy, chúng ta phải chiêm ngắm và kết hợp với Chúa Giêsu trong cầu nguyện hằng ngày. Xin chúa giúp chúng con được biến đổi nhờ tin vào Chúa và sống đức tin ấy.

Giuse Trịnh Duy Suýt SJ

Chúa là Đấng ban nước hằng sống

Chúa nhật 3 Mùa chay năm A (Ga 4,5-42)

Nước là một yếu tố không thể thiếu trong cuộc sống. Không có nước, sự sống không thể tồn tại. Vì thế, nước trở nên biểu tượng cho sự sống.

Bài đọc 1 trong sách Xuất hành kể lại việc dân Israel đã gặp cảnh thiếu nước uống khi họ phải bước đi trong sa mạc, trong hành trình được giải thoát khỏi ách nô lệ Ai cập và tiến về miền Đất Hứa. Họ đã kêu trách Môsê, rằng chẳng lẽ bên Ai Cập thiếu đất chôn hay sao mà lại dẫn họ vào chốn khô cằn này. Vì thiếu nước, họ liền nhớ lại một chút an ủi trước đây, và quên cảnh đau khổ của kiếp nô lệ mà họ đã từng kêu than. Thiếu nước, họ chỉ cảm thấy sự chết, và không thấy tương lại sự sống. Trước cảnh tượng ấy, Chúa đã khiến Môsê lấy gậy đập vào đá, một dòng nước trào ra nuôi sống dân đang khát. Quyền năng của Chúa được thực thi: nước có thể chảy ra từ đá trong sa mạc khô cằn.

Bài tin mừng theo thánh Gioan cũng kể một câu chuyện liên quan tới nước: Chúa Giêsu xin một phụ nữ Samaria nước uống. Trước sự ngỡ ngàng của chị – vì người Do Thái và Samaria không giao du với nhau, mà một người đàn ông Do thái xin một người phụ nữ Samaria nước thì lại càng lạ – Chúa Giêsu khẳng định mình là Đấng ban nước hằng sống: “Ai uống nước giếng này sẽ còn khát, còn ai uống nước tôi ban sẽ không khát nữa”.

Lời xin nước của Đấng ban nước hằng sống như một cách thức đi vào tương quan với một người ngoại, trong hoàn cảnh cụ thể của chị ta, và khơi lên trong lòng chị ta khao khát điều chị ta đang cần thực sự : “xin Ngài cho tôi thứ nước ấy, để tôi khỏi khát và khỏi phải tới múc nước nữa”. Chính khao khát nước đã dẫn chị ta tới thứ nước hằng sống. Chúa vẫn luôn đi vào cuộc đời ta từ những quan tâm đời thường của mình, để dẫn đưa ta tới giá trị đích thực của sự sống.

Để nhận được thứ nước hằng sống Chúa ban, người phụ nữ Samaria phải trở về với con người thật của mình. Con người thật của chị được miêu tả qua việc chị nhìn nhận tình trạng gia đình của mình. Chị đã có năm đời chồng và người đàn ông chị đang chung sống không phải là chồng của chị. Chúa biết rõ hoàn cảnh ấy, chỉ cần chị ta trở về và nhịn nhận thực trạng ấy. Ơn hoán cải được bắt đầu với sự nhìn nhận tình trạng thực tế của mình, một tình trạng tội lỗi, yếu đuối cần phải được ra khỏi.

Chúa biết rõ tình trạng ấy, và người phụ nữ này đã được cảm hóa, vì chỉ có người của Chúa mới biết rõ cõi lòng của con người, cõi lòng của chị. Thay vì cảm thấy xấu hổ vì tình trạng thật của mình, chị lại vui mừng nhận ra người đối diện với mình là Người của Thiên Chúa. Đó là dấu hiệu của sự hoán cải và được thứ tha thực sự. Niềm vui ấy biến chị ra khỏi nhu cầu cụ thể của cuộc sống và lên đường loan báo niềm vui: “Chị bỏ vò nước lại đó và nói với người ta : ‘Đến mà xem: có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Kitô sao?”

“Ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời”. Lời Chúa phán đã thành sự thật nơi chị phụ nữ Samaria, chị đã đón nhận nước của Chúa Giêsu và cuộc đời chị đã trào lên nước sự sống. Nước ấy đã lan tới toàn dân thành của chị.

Niềm tin vào một Thiên Chúa đã ban nước để nuôi sống dân qua trung gian một Môsê, Thiên Chúa ấy đã ban nước hằng sống cho nhân loại qua Chúa Giêsu, và nhờ Chúa Giêsu, người tín hữu kín múc được nước hằng sống, đồng thời lại trở lên nguồn nước hằng sống cho người khác. Đây là một ân ủng lớn lao mà Chúa trao ban cho nhân loại.

Chúng ta hãy để cho nước của Chúa thấm vào lòng của đời ta, thanh tẩy cuộc đời ta, để cuộc đời ta được trở nên thanh sạch, và nhờ đó, chính cuộc đời của chúng ta lại trở nên một nguồn nuôi sống cho anh chị em chúng ta. Tất cả đều là nhờ hồng ân của Chúa, vì Chúa muốn chúng ta được sống và sống đời đời.

 

Cái nhìn trong đức tin

 

Từ hai câu chuyện trong các bài đọc kinh thánh ngày thứ 6 tuần II mùa Chay – bài đọc 1 kể về câu chuyện Giuse được cha mình là Giacop thương cách đặc biệt, và vì thế,các anh của ông đã bán ông sang Ai Cập làm nô lệ (St 37, 3-28); bài đọc 2 kể về câu chuyện người con của chủ vườn đến thu hoa lợi, thì bị các tá điền sát hại (Mt 21,33-46) – tôi trích lại một lời trong Kinh thánh làm ý tưởng chủ đạo.

“Chính viên đá bọn thờ loại ra, đã trở nên viên đá góc; đó là việc Chúa làm và là việc lạ lùng trước mắt chúng ta”

Cuộc đời của Giuse bị anh em của ông loại bỏ vì ghét ông, vì ganh tỵ với ông khi ông được thương hơn. Các anh đã bán ông sang Ai cập làm nô lệ, vừa để cho khuất mắt, vừa được thỏa lòng ghen tỵ. Giuse đã chịu cảnh làm nô lệ, bị tù đày, nhưng sau đó, Chúa đã biến đổi cuộc đời ông, và được vua Ai cập đặt ông làm tể tướng, chỉ dưới quyền vua. Giuse đã cứu cả gia đình và dân tộc ông thoát khỏi nạn đói.

Cuộc đời của Giuse như là hình bóng của cuộc đời Đức Giêsu. Người con bị những tá điền giết chết trong câu chuyện mà thánh Matthêu kể lại là chính Đức Giêsu. Ngài được Thiên Chúa, Cha Ngài, sai đến với dân của Chúa, nhưng những nhà lãnh đạo dân ấy đã tìm cách bắt Ngài, loại trừ Ngài và giết Ngài, như họ đã từng giết các ngôn sứ. Nhưng chính cái chết của Đức Giê su lại trở nên nguồn ban ơn cứu độ cho dân Israel nói riêng và cho toàn thể nhân loại nói chung.

Thiên Chúa không bao giờ thua mưu kế gian ác của con người. Ngài có quyền biến hệ quả của sự dữ thành điều lành. Như có người nói, Ngài có thể vẽ đường thẳng từ những đường cong. Tin vào quyền năng của Chúa, chúng ta có quyền hy vọng. Cũng như Giuse chẳng làm gì nên tội, mà bị đối xử bất công; cũng như Giêsu hoàn toàn vô tội, mà lại bị giết chết; có thể chúng ta nhiều khi rơi vào hoàn cảnh bị đối xử bất công, bì làm hại, dù ta không sai lỗi, hoặc không làm điều gì ác.

Khi bị đối xử bất công, có người than thân trách phận, nhìn cuộc đời với mầu đen tối, đi tới chỗ tuyệt vọng. Người tín hữu, tin vào quyền năng Chúa, được mời gọi nhìn mọi biến cố trong cuộc đời mình bằng cái nhìn đức tin. Thay vì trách phận mình, trách hoàn cảnh, người tín hữu cần lắng nghe và chiêm nghiệm xem Chúa đang dạy bảo mình điều gì, và Chúa muốn dẫn đưa mình đi đâu từ những biến cố đó. Chúa luôn có thể dẫn ta tới điều tốt lành ngang qua những sóng gió thử thách.

Lòng ghen tương đố kỵ nơi các anh của Giuse, nơi các nhà lãnh đạo dân Israel thời Chúa Giêsu vẫn luôn tiềm tàng trong mỗi người chúng ta. Đứng trước những người thành công hơn mình, được ưu ái hơn mình, chúng ta có thể có chút chạnh lòng, hoặc ấm ức, so bì, đố kỵ…để rồi nhìn họ với cái nhìn thiếu thiện cảm, hoặc đi đến chỗ ghen ghét. Cái nhìn đó thuần túy chỉ quy vào chính mình. Kinh thánh còn kể câu chuyện Cain giết em mình là Abel, khi của lễ của Abel được nhận lời, còn của mình thì không.

Thánh Phaolô dạy phải “vui với người vui, khóc với người khóc”. Khóc với người khóc thì dễ, còn vui với người vui cần có cái nhìn đức tin. Nhìn mọi sự đều đến từ ân sủng của Chúa, và ân sủng được trao ban đó để xây dựng cuộc sống, để tiếp tục cộng tác vào công trình tác tạo của Chúa, chứ không phải là khả năng riêng của mình, để rồi so sánh, dẫn đến tự cao hay tự ti.

Chỉ khi chúng ta nhìn với cái nhìn của đức tin, chúng ta mới ra khỏi  sựhẹp hòi của lòng đố kỵ. Chỉ khi tin Chúa, ta mới có cái nhìn hy vọng trong mọi hoàn cảnh. Xin Chúa giúp chúng ta vững tin hơn, và đưa niềm tin vào trong cuộc sống, để chúng ta luôn được sống trong an vui và hy vọng.

Lời nói và hành động


Đọc Lời Chúa trong Tin Mừng Mt 23,1-12, tôi gặp đoạn Chúa Giêsu chỉ trích các Luật sĩ và đưa ra lời khuyên cho người nghe Ngài thế này: “Các Luật sĩ và các người biệt phái ngồi trên tòa Môsê: vậy những gì họ nói với các ngươi, hãy làm và tuân giữ, nhưng đừng noi theo hành vi của họ, vì họ nói mà không làm…”.

Trong văn hóa Việt, chúng ta thường nghe thấy câu: “miệng nam mô, bụng bồ dao găm”; hoặc “nói vậy mà không phải vậy”, hoặc “thùng rỗng kêu to”.

Trong cuộc sống, chúng ta gặp quá nhiều chuyện lời nói không đi đôi với việc làm, ngôn hành bất nhất. Có rất nhiều nguyên nhân gây nên tình trạng này. Tôi nhấn mạnh tới một nguyên nhân mà tôi cho là chính yếu, đó là tính quy kỷ, tức là quy hết về bản thân mình, với tất cả lợi danh của nó.

Để đánh bóng được cái nhãn hiệu, có được cái danh, người ta dùng lời nói phóng đại, văn hoa mỹ miều. Chúng ta có thể thấy nơi nghệ thuật dùng từ trong quảng cáo.

Để đạt được lợi ích cho mình, người ta có thể dùng nhiều cách thức, đôi khi là thủ đoạn lừa đảo, ném đá giấu tay, hoặc dùng ngôn từ với nhiều hàm ý để lợi dụng người nhẹ dạ cả tin.

Ngay cả một môn nghệ thuật mà nhiều sách đề cập tới, thậm chí người ta còn cho đó là một vốn kinh nghiệm sống được đề cao, đó là Đắc Nhân Tâm. Mục đích của nó cũng là lấy lòng người khác để đạt được lợi ích cho mình. Một áp dụng cụ thể được các chế độ dùng để lấy lòng dân, được khoác lên bộ áo “dân vận”, hoặc “mị dân”.

Vì vậy, giữa lời nói và việc làm có một khoảng cách rất lớn. Hơn nữa, giữa việc làm và suy nghĩ nội tâm chi phối hành động đó cũng có một khoảng cách. Khoảng cách đó lớn đến nỗi người ta không thể đo lường và dò thấu.

Tuy nhiên, dù có sâu xa thế nào, suy nghĩ của con người vẫn bị đối chất trước tiếng nói lương tâm, mà người ta thường nói “trời biết, mình biết”. Kinh nghiệm này được thánh vịnh 139, 2-4 đề cập tới :

“Lạy Chúa, Ngài dò xét con và ngài biết rõ,

biết cả khi con đứng con ngồi.

Con nghĩ tưởng gì, Ngài thấu suốt từ xa,

Đi lại hay nghỉ ngơi, Chúa đều xem xét.

Mọi nẻo đường con đi, Ngài quen thuộc cả.

Miệng lưỡi con chưa thốt lên lời,

thì lạy Chúa, Ngài đã am tường hết”

Sách Is 10,17 kêu gọi: “Các ngươi hãy tắm rửa, hãy thanh tẩy, đừng làm điều xấu nữa, hãy làm điều lành, hãy tìm kiếm công lý, hãy cứu giúp kẻ bị áp bức, hãy xét xử công bằng cho những trẻ mồ côi và bênh vực người góa bụa”.

Đứng trước một Thiên Chúa luôn biết rõ lòng ta, trước một lương tâm luôn chất vấn chính mình, và trước lời mời gọi thay đổi đời sống, loại trừ sự xấu trong hành động, chúng ta cần suy nghĩ tới đời sống hiện nay của chúng ta.

Vì khuynh hướng con người thường quy về mình, nên luôn có sự bất nhất trong hành động và lời nói. Tôi cần ra khỏi cái tôi ích kỷ đó và hướng tới người khác, để cho hành động của tôi thực sự đem đến niềm vui và sự sống cho mọi người, chứ không chỉ của riêng tôi. Có thế tôi mới có thể dần dần đi đến chỗ thống nhất đời mình, từ suy nghĩ tới hành động, từ đời sống nội tâm và cách biểu lộ ra bên ngoài.

 

Có đi có cần có lại?

Một ngày nọ, tôi đi dự một đám tang, và trong đầu tôi dấy lên nhiều suy nghĩ: Có lúc tôi nghĩ việc mình đến với người ta hôm nay, để sau này họ cũng đến với mình, hoặc mình đi đám nhằm có thêm tương quan cho dễ làm việc. Lúc ấy, tôi chẳng cảm thấy mình có chút đau buồn hay thương tiếc gì cho người đã chết, hoặc cảm thông cho người đang sống. Tính toán như thế làm con tim tôi thật trai cứng. Tính toán như thế làm cho việc tôi đi dự đám tang không chút ý nghĩa gì. Tôi nghĩ phải chăng mình cần xem lại cái nguyên tắc “có đi có lại”.

Câu châm ngôn “có đi có lại mới toại lòng nhau” được rất nhiều người áp dụng. Nó được coi như một nguyên tắc sống hàng ngày. Tuỳ theo hoàn cảnh, lứa tuổi mà việc thực hành này mang mầu sắc đặc trưng của nó:

Thời học sinh và sinh viên, một nhóm bạn rủ nhau đi ăn, hôm nay người này mời, lần sau người khác. Giả như có ai đó chưa mời bạn bè được thì áy náy, như thể mình không bằng bạn bằng bè.

Khi lớn lên, có những người đi ăn tiệc, dù là hiếu hay hỉ, nhiều khi phải đi để trả nợ, trả ơn, hoặc đi vì phải đi, chứ không hoàn toàn vì vui mừng đối với đám cưới hoặc buồn đau vì đám tang.

Nguyên tắc “có đi có lại” có lẽ diễn tả một lối sống công bằng và giúp cho người ta có những sự ràng buộc nào đó, để con người có thể sống chung được với nhau, và mỗi người phải có trách nhiệm cho sống chung. Tuy nhiên, kinh nghiệm cụ thể trên của riêng tôi làm tôi phải suy nghĩ khác: để việc mình làm là một sự cảm thông thực sự, thì sự chia sẻ và hiện diện của tôi phải trở nên một cái “cho đi” đích thực, phải “có đi” mà không cần “có lại”.

Là người có niềm tin và đối diện với Lời Chúa dạy: làm ơn mà không nghĩ tới việc đáp trả, “đừng cho tay trái biết việc tay phải làm”, một tình yêu vô vị lợi…, tôi càng suy nghĩ nhiều hơn. Có lẽ tôi đã để cho những châm ngôn sống của đời thường ảnh hưởng quá sâu vào tâm trí tôi và làm cho tôi không đủ nhậy bén trước nguyên tắc sống mới – nguyên tắc của đạo Chúa.

Tôi được mời gọi sống theo tinh thần yêu thương, “có đi” mà không cần “có lại”, để tôi thực sự là con Chúa. Điều này đòi tôi phải đặt niềm tin mạnh mẽ vào Chúa, vì nếu niềm tin yếu kém, tôi sẽ không dám cho đi hoàn toàn.Tin Chúa và phó thác đời mình cho Chúa, tôi sẽ không hoàn toàn đặt sự bảo đảm đời sống của tôi nơi của cải trần thế này, và tôi sẽ dám cho đi nhiều hơn nữa, và cho đi một cách vô vị lợi.