Ngày 26. THIÊN CHÚA CHỜ ĐỢI VÀ NĂN NỈ TA TRỞ VỀ

 

Chúng ta đã bước vào Chúa nhật IV của mùa chay, là ngày mà các cha mặc áo mầu hồng, mầu của niềm vui. Niềm vui bởi vì chúng ta đã đi được hơn một nửa của mùa chay; vui bởi vì lòng thương xót của Thiên Chúa thật vô bờ bến đối với con người tội lỗi chúng ta. Ngài chờ đợi chúng ta trở về. Ngài năn nỉ chúng ta đi “vào nhà”, giao hòa với Chúa và với anh chị em chúng ta.

Thánh Luca, trong chương 15, trình bày cho chúng ta ba dụ ngôn về lòng thương xót của Thiên Chúa. Lòng thương xót này vượt lên trên sự công bằng, vượt lên logic được-mất theo tính toán của chúng ta.

Đứng trước thái độ bất hiếu của người con thứ hai, khi anh ta đòi cha chia gia tài, rồi thu gom tất cả, đi thật xa, để không còn muốn dây dưa với cha mình, người cha ôn tồn làm theo ý anh ta. Người cha tôn trọng tự do của anh. Anh ra đi, nhưng người cha luôn dõi theo, và chờ anh ta hối cải, quay trở về. Người cha đã hành xử hoàn toàn vì tình thương, chứ không bực tức vì lỗi phạm của người con này.

Hơn nữa, khi người con trở về trong tình trạng đói rách, bẩn thỉu nhuốc nhơ, người cha chẳng nề sự hôi hám của anh, ông đã ôm lấy anh, hôn anh, và phục hồi chức vị làm con cho anh ta, dù anh ta không còn đáng được như thế. Ông đã chuẩn bị sẵn mọi thứ cho anh, dù anh bỏ đi. Ông chỉ ngóng anh về, để ông có thể yêu anh ta như trước.

Thiên Chúa vẫn chờ đợi, vẫn đối xử như thế với chúng ta, đặc biệt những người đã xa Chúa, đã lỗi nghĩa cùng Chúa, đã phản bội Chúa. Ngài vẫn chờ đợi chúng ta hồi tâm trở về, ít là tìm được sự bình an, và chỉ cần ta trở về, thì ngài sẽ yêu thương chúng ta hơn điều chúng ta mong đợi.

Trái với người con thứ bỏ nhà ra đi, anh con cả luôn ở nhà bên cha, nhưng người con này không cảm nhận được tình thương của Cha dành cho mình. Anh luôn nhìn cha với ánh mắt sợ sệt. Anh phục vụ cha như một người tôi tớ, một người làm công. Anh đánh giá mình, sống giá trị của mình qua việc chu toàn nghĩa vụ, chứ không phải làm vì tình cha con. Anh cũng đánh giá người khác bằng việc sống nghĩa vụ này.

Vì thế, khi người em đã bỏ cha ra đi, phung phí tài sản, và đã không chu toàn nghĩa vụ người con, thì người anh cả không chấp nhận em mình. Hơn nữa, anh cũng không chấp nhận cha mình đối xử bằng tình thương với người em này. Anh muốn dừng lại ở sự công bằng theo nghĩa vụ.

Anh ở cùng cha, nhưng hoàn toàn không sống tình cha con. Vì vậy, anh không cảm nghiệm được tình thương, cũng chẳng muốn đối xử với người khác bằng tình thương. Xem ra tình thương yêu đối với anh là điều xa xỉ. Anh ở cùng cha, mà không biết rõ về cha của mình.

Có lẽ nhiều người có đạo cũng dừng lại ở vị thế này. Đi đạo và thực hành đạo thuần túy theo luật, vì sợ Chúa phạt…, và rồi cũng đối xử với người khác theo luật; khi người khác không giữ luật như mình thì mình dễ xét nét, và lên án, không chấp nhận và không cho người khác có cơ hội tháp nhập vào cộng đoàn như mình.

Trước thái độ cứng nhắc của người anh cả, người cha đã phải ra năn nỉ anh ta vào nhà. Vào nhà để chung vui với cha, vì sự chờ đợi của cha đã được thỏa mãn, khi người em đã về. Vào để chung vui với người em, vì em được tái tạo lại trong tình thương, đã trở về từ cõi chết. Chung vui với cha cũng là chấp nhận sự trở về của người em. Chỉ khi vào nhà chung vui như thế, người anh mới cảm nghiệm được tình cha con thực sự.

Thiên Chúa luôn năn nỉ chúng ta qua Giáo hội, kêu mời chúng ta hoán cải, dù ta còn ở xa, hay ở ngay trong nhà. Chúng ta được mời gọi ra khỏi cái tôi ích kỷ, xét nét, cố chấp, để trở về với tình thương, của hòa giải và của sự đón nhận nhau. Tôi trở về hay không? Tôi vào nhà chung vui hay không? Điều đó tùy thuộc vào tôi. Thiên Chúa vẫn chờ đợi và năn nỉ ta trở về.

Ngày 25. THÁI ĐỘ TỰ HÀO

Tự hào là một cảm giác của một ai đó hài lòng về chính mình, về những kết quả mà mình đạt được. Nó thường quy về cái TÔI: cái tôi có thể là chính mình, là gia đình, là làng xóm, là… quốc gia tôi. Chúng ta thấy tình cảm này khi đã thành công trong một công việc nào đó, hoặc con cái mình đạt được thành tích cao, hoặc đội bóng nước nhà vừa thắng sau một mùa giải…

Nhiều vị lãnh đạo có thể tận dụng hay lợi dụng cái tình cảm tự hào này để lèo lái, để dẫn dắt một nhóm người. Thường thì ai cũng thích được đề cao mình, nên thói tự hào là một cửa ngõ gần nhất để đưa tới mất mình, hiểu theo nghĩa mình trở nên nô lệ cho chính cái tôi của mình, khi mình muốn đề cao cái tôi ấy.

Thái độ tự hào không chỉ dừng lại ở khía cạnh trần thế, mà nó còn len lỏi vào cả đời sống tôn giáo. Đó là khi một người tín hữu thực hành đạo tìm tiếng khen, muốn được đề cao. Thái độ này bị chính Chúa Giê-su lên án và chỉ chích, vì nó không đưa đến đâu.

Thánh Luca ghi lại câu chuyện Chúa Giê-su nói với những người hay tự hào mình là người công chính và hay khinh bỉ kẻ khác: “Có hai người lên đền thờ cầu nguyện, một người biệt phái và một người thu thuế. Người biệt phái đứng thẳng, cầu nguyện rằng: “lạy Chúa, tôi cảm tạ Chúa vì tôi không như bao người khác: tham lam, bất công, ngoại tình, hay là như tên thu thuế kia; tôi ăn chay mỗi tuần hai lần, và dâng một phần mười tất cả các hoa lợi của tôi”. Người thu thuế đứng xa xa, không dám ngước mắt lên trời, đấm ngực mà nguyện rằng: “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”. Và Chúa kết luận rằng người thu thuế này ra về thì được nên công chính, còn người biệt phái ở trên thì không. (Lc 18,9-13)

ai tự nâng mình lên sẽ bị hạ xuống; và ai tự hạ mình xuống sẽ được nâng lên. (Lc 18,14)

Để làm những việc như người biệt phái trong câu chuyện vừa kể thật là khó. Ông ấy đã phải cố gắng nhiều để giữ luật, đã phải hy sinh nhiều để đóng 1/10 thu nhập của mình…, có lẽ trong chúng ta chưa ai có thể sống và giữ luật một cách chỉn chu như ông ta được. Đó là lý do để ông ấy tự hào, và thật đáng tự hào, nhất là tự hào về đời sống đạo.

Tuy nhiên, thái độ tự hào không chỉ là một niềm vui về điều mình đã làm được, mà nó còn hàm chứa yếu tố so sánh. Tôi tự hào vì tôi hay hơn, giỏi hơn, tốt hơn người khác. Vì mình hơn, nên dễ kiêu ngạo, và dễ chê bai khinh thường người khác.

Thái độ tự hào chỉ muốn khoe công trạng của mình, đến mức suy nghĩ rằng mọi thành công đều do khả năng của mình. Đối với người sống niềm tin vào Chúa, thái độ tự hào này cắt đứt họ với Chúa, họ không còn nhìn nhận ân sủng của Chúa nơi cuộc đời họ. Một cách nào đó, họ đã đánh cắp ơn Chúa và biến làm khả năng riêng của mình, nên khi tự hào, họ chỉ còn thấy mình, chứ không còn thấy Chúa nữa.

Thái độ tự hào như thế không đưa người ta trở về với Chúa được, vì người ta chỉ dừng lại ở chính mình. Vì thế mà người ấy không trở nên công chính được.

Trái với sự tự hào là lòng khiêm hạ. Người khiêm hạ dám nhìn nhận điểm yếu của mình, dám sống sự thật về mình. Trong tương quan với Chúa, người khiêm hạ hướng hoàn toàn về Chúa, nhìn nhận mọi khả năng đều là ân huệ của Chúa. Người ấy xin lòng thương xót và sự nâng đỡ từ Chúa. Người khiêm hạ tìm kiếm đời sống của mình ở trong Chúa. Chính thái độ khiêm hạ này giúp người ta nên công chính.

Tôi nhìn lại đời tôi với những tình cảm và tương quan với Chúa. Đâu là những lúc tôi tự hào? Và lúc ấy, Chúa có còn trong tâm trí tôi nữa không? Có khi nào vì sự tự hào mà tôi đã chê bai người khác? Tôi phải điều chỉnh thái độ của tôi như thế nào để nối kết lại tương quan với Chúa và với người khác?

Ngày 23: RA KHỎI SỰ CỐ CHẤP

Trong cuộc sống, chúng ta thường gặp thái độ cố chấp. Người cố chấp luôn giữ nguyên ý kiến theo những quan niệm cứng nhắc sẵn có, mặc dù mình sai, dần dần hình thành những định kiến về ai đó theo ý riêng của mình.

Người cố chấp thường đóng kín trong quan điểm riêng, nên không thể mở lòng để nghe được điều mới, không thể khám phá cái hay, cái tốt nơi người khác. Người cố chấp luôn cắt nghĩa lời nói, việc làm của người khác theo nghĩa tiêu cực. Vì thế, người cố chấp thường không dám nhìn nhận mình sai, và hay lấp liếm cái sai của mình.

Tin Mừng Luca 11,14-23 kể cho chúng ta câu chuyện Chúa Giê-su trừ một quỷ câm. Một số người chứng kiến việc chữa lành này, thay vì thán phục và cảm tạ Chúa, họ lại cắt nghĩa sự việc theo tư tưởng xấu: “ông ta nhờ tướng quỷ mà trừ quỷ”. Đó là thái độ cố chấp. Họ không muốn nhìn nhận việc tốt đẹp nơi Chúa Giê-su. Họ không thấy được quyền năng của Thiên Chúa đã được thể hiện.

Lời Chúa phán: “Hãy nghe tiếng Ta thì Ta sẽ là Thiên Chúa các ngươi, và các ngươi sẽ là dân của Ta. Hãy bước theo mọi đường lối Ta truyền dạy, để các người được hạnh phúc” (Gr 7,23). Tuy nhiên, không phải ai cũng dễ nghe lời Chúa phán. Ngôn sứ Giê-rê-mia nói tiếp: “Nhưng chúng chẳng nghe, chẳng để tai, cứ theo những suy tính của mình, theo tâm địa ngoan cố xấu xa” (Gr 7,25). Họ có thể được gọi là người cố chấp.

Rất có thể tôi cũng rơi vào thái độ cố chấp này. Tôi hãy dừng lại, nhìn lại cách hành xử của mình để suy xét.

Trong tương quan với gia đình: có khi nào tôi muốn bảo vệ ý riêng, tới mức luôn phê bình, luôn bỏ ngoài tai ý kiến của người khác, cho dù là cha mẹ, vợ hoặc chồng, hay con cái. Sự cố chấp này làm cho gia đình mất vui, vì thiếu sự lắng nghe; các thành viên khác sẽ cảm thấy không được tôn trọng; bầu khí gia đình sẽ trở nên nặng nề.

Trong tương quan với đồng nghiệp: thái độ cố chấp có thể gây mất tình bạn. Người ta làm việc với mình đơn thuần chỉ vì công việc, phải bằng mặt chứ không bằng lòng. Khi xong việc, thì chẳng còn gì gắn với nhau nữa. Thái độ cố chấp làm đổ vỡ tương quan đồng nghiệp.

Trong tương quan với cộng đoàn giáo xứ: thái độ cố chấp được thể hiện qua cách thức ứng xử, lời nói chê bai người khác, luôn đề cao ý kiên riêng của mình, và muốn người khác phải làm theo ý riêng ấy. Cộng đoàn là nơi thể hiện mình, chứ không còn là nơi để yêu thương và phục vụ, không còn tinh thần hy sinh và chia sẻ nữa.

Trong tương quan với Chúa: thái độ cố chấp không đưa tới hoán cải và thay đổi, vì người cố chấp không muốn nghe tiếng Chúa, họ chỉ nghe tiếng mình. Thiên Chúa mà họ tin trở nên mờ nhạt; họ không thể có tâm tình gắn bó với Chúa, khiêm tốn trước Chúa, và như vậy, họ không sống đúng là người con của Chúa.

Như vậy, thái độ cố chấp gây ra đổ vỡ trong mọi tương quan. Để thay đổi, tôi cần nhìn lại mình. Cần suy về câu nói “tiên trách kỷ, hậu trách nhân” – nghĩa là trước hết phải trách mình, nhìn nhận lỗi mình, sau đó mới nhìn tới người khác. Chỉ khi loại bỏ được thái độ cố chấp này, chúng ta mới có thể tái tạo lại tương quan và xây dựng thành tương quan của tình bạn, tình yêu và tình thương. Mùa chay là lúc thuận lợi để thay đổi chính mình trong các tương quan này.

Ngày 22. GIỮ LUẬT ĐỂ ĐƯỢC SỐNG

Để trở nên cao cả trong Nước Trời, Chúa Giê-su mời gọi chúng ta phải tuân giữ Luật Chúa và dạy người khác cũng làm như vậy. Bởi vì chính Ngài đến để kiện toàn Lề luật, chứ không phải để bãi bỏ Lề luật. (Mt 5,17).

Đối diện với Luật, chúng ta luôn có cảm giác bị gò bó, theo khuôn khổ và khó chịu. Chúng ta thích được tự do, thích làm gì thì làm, và thích làm theo ý thích của riêng mình, thế nên Luật luôn là điều chúng ta muốn tránh, muốn lách. Nhiều sinh viên học ngành Luật chia sẻ rằng họ học luật để lách luật.

Tuy nhiên, chúng ta hãy nhìn khía cạnh tích cực của luật. Giả sử khi ra đường, nếu người ta không tuân thủ theo luật giao thông, sẽ có nhiều tai nạn xảy ra, và người ta sẽ không di chuyển được. Như vậy, luật giao thông nhằm giúp người ta đi lại tốt hơn và giúp người ta được an toàn khi đi đường.

Đối với dân tộc Do thái, luật pháp không phải chỉ nhắm tới việc vận hành một quốc gia, nhưng còn hướng tới làm cho dân trở thành dân của Chúa, bởi vì luật pháp chính những giới răn của chính Thiên Chúa.

Ngôn sứ Mô-sê nói với dân Do thái: “tôi đã dạy cho anh em những thánh chỉ và quyết định như Đức Chúa, Thiên Chúa của tôi, đã truyền cho tôi, để anh em đem ra thực hành trong miền đất mà anh em sắp vào chiếm hữu. Anh em phải giữ và đem ra thực hành, vì nhờ đó anh em sẽ được các dân coi là khôn ngoan và thông minh” (Đnl 4,5-6); “anh em sẽ được sống…” (Đnl 4,1).

Như vậy, việc tuân giữ luật Chúa không những làm cho mình có thể sống, mà còn làm cho mình trở nên khôn ngoan và thông minh.

Khi Chúa Giê-su tới, Ngài không bãi bỏ luật của Mô-sê, nhưng Ngài kiện toàn Luật đó. Kiện toàn hiểu theo nghĩa làm cho kết quả của việc giữ luật đi tới trọn hảo hơn, đặc biệt là trong giới răn yêu thương.

Luật xưa dạy “mắt đền mắt, răng đền răng”, nghĩa là chỉ bắt người gây hại đền bù cho mình đúng theo điều họ đã gây ra, chứ không được đòi hơn. Luật của Chúa mời gọi người ta “tha thứ tới bảy mươi lần bảy”, nghĩa là tha thứ hết; thậm chí tới chỗ yêu thương cả kẻ thù, cầu nguyện cho kẻ vu khống mình. Như vậy, giới răn của Chúa Giê-su đưa chúng ta tới sự khôn ngoan và sự sống của Nước Trời, chứ không chỉ là sự sống ở trần gian này.

Sự khôn ngoan của Nước Trời có gì khác với sự khôn ngoan của người đời?

Người ở đời đánh giá người ta theo nấc thang giá trị của vật chất, quyền lực và thỏa mãn đam mê dục vọng. Càng có quyền, có tiền thì càng được trọng vọng. Họ được gọi là khôn, là tài giỏi. Từ đó, họ bị nguy cơ tự cao tự đại, và có nguy cơ đi tới lối sống hưởng thụ, thậm chí tới vô độ và vô luân. Đó là một lối sống được coi là thành công, là đáng sống của người đời. Đó là giá trị trần thế. Tuy nhiên, lối sống này chỉ làm họ vui bề ngoài, hãnh diện với người đời, còn tâm hồn họ chưa chắc đã thỏa mãn, gia đình chưa chắc đã có hạnh phúc sâu xa…

Người sống theo luật Chúa phải từ bỏ lối sống vô luân, đồng thời phải sống những giá trị của yêu thương người qua việc giúp đỡ người khó, phục vụ người yếu đau theo tinh thần của việc thương xác bảy mối và thương hồn bảy mối. Người giữ luật Chúa qua việc sống trung thành trong đời sống hôn nhân gia đình, chăm chỉ đọc kinh cầu nguyện, thờ phượng Thiên Chúa. Khi sống những giá trị đó, người tín hữu bị coi là u mê, yếu kém, thậm chí bị chê bai vì hiền, vì dại, không biết mùi đời. Nhưng chính những giá trị này lại làm cho họ có niềm vui hạnh phúc thật sự, hạnh phúc từ bên trong, và giúp họ được sống trong Chúa.

Luật Mô-sê giúp cho dân Do thái được sống làm dân Chúa và trở nên khôn ngoan. Luật Chúa Giê-su đưa chúng ta tới sự sống và khôn ngoan trong Nước Trời. Trở về với Chúa trong mùa chay này, chúng ta hãy hướng tới giới răn của Chúa, và đem ra thực hành trong đời sống của chúng ta. Chắc chắn chúng ta sẽ cảm nhận được sự khôn ngoan của Chúa nơi tâm hồn chúng ta.

Ngày 21. THA THỨ ĐỂ ĐƯỢC THỨ THA

 

“Nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình, Chúa Cha ở trên trời cũng không tha thứ cho anh em” (Mt 18,35)

Lỗi lầm trong cuộc sống là điều khó tránh. Nó có vẻ là hệ quả của thân phận dòn mỏng của con người. Có những lỗi lầm lớn, một khi đã xảy ra, gây ra bao nhiêu điều tai hại, nhiều tương quan bị đổ vỡ. Lại có những lỗi lầm nhẹ, người ta xem thường nó, nhưng nếu nhiều lỗi lầm nhẹ như vậy cứ tích tụ, nguy cơ của nó lại càng nguy hiểm, vì nó tạo thành định kiến cách tiệm tiến, khó thay đổi.

Lỗi lầm là điều khó tránh. Nhưng vấn đề là chúng ta sẽ rút ra được bài học nào từ những lỗi lầm ấy. Người không biết rút ra bài học, thì sẽ hành xử theo vết xe cũ, và lại cứ tiếp tục phạm lỗi.

Đứng trước lầm lỗi của người khác, có người ứng xử cách bao dung, cảm thông và tha thứ; nhưng cũng có người cố chấp, có bé xé ra to, làm nghiêm trọng vấn đề hơn. Có những người cương quyết không chịu tha, thậm chí luôn giữ trong lòng, tới mức “sống để bụng, chết đem theo”. Khi cố chấp như vậy, thì chính mình là nạn nhân, vì mình luôn phải mang một “cục ức” ở trong lòng, trong tâm trí, mình trở thành tù nhân của chính sự cố chấp ấy.

Thông thường, khi một người ý thức về lỗi lầm của mình thì cũng dễ dàng cảm thông với lỗi lầm của người khác. Nhưng cũng có người không chịu nhìn nhận lỗi của mình, và chỉ muốn soi mói tội người, đổ tội cho người khác. Lại có người muốn người ta tha lỗi cho mình, còn mình thì không chịu tha cho người khác.

Chúa Giê-su trong Tin mừng theo Mattheu kể cho chúng ta câu chuyện một “tên mắc nợ không biết xót thương” như sau: Một kẻ mắc nợ vua mười ngàn yến vàng, và không có gì để trả, Y kêu van nhà vua thương gia hạn nợ cho anh, nhà vua thương, và tha hết số nợ ấy cho y. Nhưng vừa ra tới ngoài, Y gặp bạn nợ y một tram quan tiền, Y đòi nợ và người bạn kia cũng xin y gia hạn, nhưng y không chịu, và bắt tống ngục người bạn này. Chuyện này làm các bạn khác rất buồn, nên họ đã kể cho nhà vua biết. Nhà vua bèn truyền lệnh đòi y tới, và mắng y: “Tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết số nợ ấy cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta, thì đến lượt ngươi, người không phải thương xót đồng bạn, như chính ta đã thương xót ngươi sao?” (Mt 18,32-33).

Chúa Giê-su kể câu chuyện này, và chuyển tải thông điệp: “Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử như vậy với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình” (c.34)

“Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử như vậy với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình” (c.34)

Lời kinh dạy chúng ta biết, nếu Chúa chấp tội, nào ai có thể được cứu? Điều này cho thấy ai cũng ta cũng có tội, nhưng điều kiện để được ơn tha thứ của Chúa là chúng ta phải tha thứ cho người khác.

Tha tội cho người khác đòi chúng ta phải cho đi, phải mất mát, phải ra khỏi cái suy nghĩ ích kỷ, nhỏ nhen, và phải mặc lấy lòng bao dung, nhân hậu. Hơn nữa, chúng ta cần ý thức mình cũng có nhiều lỗi lầm cần được tha thứ, nên chúng ta phải đối xử như thế với người khác, để chính mình cũng được thứ tha.

Sống tâm tình mùa chay, chúng ta muốn đi vào tâm tư của Chúa Giê-su, Đấng đến tha thứ tội chúng ta, và muốn chúng ta cũng tha thứ lỗi lầm mà người khác xúc phạm tới chúng ta. Hãy dừng lại, để cho những sự bực tức còn lại trong lòng chùng xuống, nghĩ tới người gây lỗi, và bày tỏ lòng bao dung từ trong tâm hồn, xin với Chúa tấm lòng quảng đại để tha thứ, và tôi quyết định tha thứ cho ai đó đã gây ra lỗi tội vớ tôi.

LỄ TRUYỀN TIN

“Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 2, 38)

Đây là lễ tưởng nhớ biến cố Đức Maria được sứ thần của Chúa đến gặp gỡ và truyền tin: “Bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận” (Lc 1,31-33).

Maria được Thiên Chúa tuyển chọn, cho cộng tác trực tiếp vào công cuộc cứu độ con người, bởi vì Mẹ “đẹp lòng Thiên Chúa” (c. 30). Đây cũng là một ân huệ lớn lao Chúa dành cho một người nữ bé nhỏ. Đây cũng là điều Chúa thực hiện lời loan báo qua ngôn sứ Isaia: “Này đây một trinh nữ sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và tên con trẻ sẽ gọi là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Is 7,14).

“Này đây một trinh nữ sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và tên con trẻ sẽ gọi là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Is 7,14).

Ân sủng của Thiên Chúa trao ban, nhưng cần sự đón nhận cách tự do của con người. Mẹ Maria đã can đảm thưa tiếng Xin Vâng, và nhờ tiếng xin vâng này, chương trình cứu độ của Thiên Chúa đã trở thành hiện thực.

Tiếng xin vâng không đơn giản là một lời đáp qua loa cho xong. Mẹ Maria đã thưa tiếng xin vâng với trọn cả con người và tâm hồn của Mẹ. Mẹ đã hoàn toàn trao hiến cuộc đời, trao hiến tương lai cho Chúa, tùy Chúa sử dụng và dẫn đưa.

Tiếng xin vâng ấy làm đảo lộn cuộc đời của Mẹ. Mẹ thưa tiếng xin vâng để cưu mang Lời Thiên Chúa trong lòng, để cho Thiên Chúa có thể nhập thể làm người. Điều này quả là nguy hiểm. Bằng chứng là vị hôn phu của Mẹ là Thánh Giuse đã định tâm bỏ, không đón Mẹ về nhà nữa. Nếu như thế, Mẹ đã có thể bị ném đá cho đến chết, vì bị coi như phạm tội ngoại tình. Danh tiếng gia đình cũng vì thế mà bị bẽ mặt. Tiếng xin vâng rất nhẹ nhưng lại rất nặng nề. Không dễ gì có thể thưa tiếng xin vâng với Ý Chúa. Vì nó làm đảo lộn tương lai, làm cho mất an toàn và nguy hiểm.

Xét như thế, chúng ta thấy tiêng xin vâng của Mẹ phải xuất phát từ niềm tin vào quyền năng Thiên Chúa và từ lòng yêu mến. Mẹ là người đầy lòng tin tưởng và tín thác, nên Mẹ phó dâng cuộc đời của Mẹ cho Chúa.

Chính nhờ tiếng xin vâng của Mẹ, mà công trình cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện. Kế hoạch cứu độ thật lớn lao, nhưng lại cần sự cộng tác cách tự do của con người bé nhỏ. Để làm cho kế hoạch cứu độ này được lớn lên và đạt tới mọi người, Thiên Chúa cũng cần sự cộng tác nhỏ bé của chúng ta, khi chúng ta dám thưa tiếng xin vâng với Ý Chúa.

Nhờ tiếng xin vâng, và chấp nhận bước vào cuộc đời một cách đầy phưu lưu, Mẹ Maria đã trải qua nhiều gian khổ, phải sinh con trong hoàn cảnh thiếu thốn cực cùng, phải chạy chốn qua Ai cập vì sự bắt bớ của vua Hê-rô-đê, phải chứng kiến cuộc khổ hình của Giê-su, con của Mẹ, như lời ông Simon nói khi Mẹ dâng con vào Đền thờ: “một lưỡi gươm đâm thâu tâm hồn bà” (Lc 2, 35)

“một lưỡi gươm đâm thâu tâm hồn bà” (Lc 2, 35)

Nhưng cũng nhờ tiếng xin vâng ấy, mà Mẹ trở thành Mẹ Thiên Chúa, Mẹ của nhân loại. Mẹ được ca tụng là Nữ vương trên trời…, Mẹ Maria được sùng kính khắp nơi, vì uy quyền bầu cử của Mẹ bên tòa Chúa Giê-su. Mẹ là mẫu gương tuyệt vời của lòng tin, là hoa thơm của nhân loại dâng lên Chúa. Mẹ cũng là tương lại của nhân loại, khi Mẹ được ơn vô nhiễm nguyên tội, Mẹ được về trời cả xác lẫn hồn. Chúng ta cũng được thông phần vào ân sủng đó.

Theo gương Mẹ, chúng ta ca tụng quyền năng yêu thương của Chúa đối với nhân loại. Chúng ta cũng xin Chúa cho chúng ta thêm niềm tin và lòng yêu mến, để có thể gác bỏ một bên những bận tâm rất chính đáng của chúng ta, để có thể cộng tác vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa, nhờ thế, chúng ta trở nên đẹp lòng Chúa như Mẹ và cũng được hạnh phúc bên Chúa như Mẹ.

 

Ngày 19: SÁM HỐI ĐỂ ĐƯỢC SỐNG

“Nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết như vậy” (Lc 13,3.5)

Chúng ta có thể ghi nhận từ cuộc sống quanh ta rằng cái gì cũng có “hạn sử dụng”. Từ thức ăn tới thuốc men; máy móc và nhà cửa thì có thời gian bảo hành… Điều đó cho thấy mọi vật không kéo dài vĩnh viễn. Cuộc đời luôn biến chuyển, chẳng có chi tồn tại vĩnh cửu. Thế nên, Kinh Thánh nói cuộc đời là phù vân, tất cả là phù vân.

Đau khổ là thành phần của cuộc sống biến chuyển này. Nhìn nhận sự biến chuyển của vạn vật giúp chúng ta có cái nhìn tương đối về kiếp nhân sinh, về cái chúng ta đang có và muốn sở hữu trong hiện tại và tương lai. Mọi sự đều tan biến như gió thổi…

Niềm tin tôn giáo tuyên xưng rằng chỉ một mình Thiên Chúa là Đấng vĩnh hằng, thế nên chỉ mình nơi Thiên Chúa, cuộc đời ta mới có ý nghĩa. Chỉ khi chúng ta quy hướng về Ngài, cuộc đời mong manh và chóng qua mới tồn tại mãi mãi, nhờ sự vĩnh cửu của Thiên Chúa.

Thiên Chúa ấy thấu biết sự mỏng manh của chúng ta, những đau khổ của kiếp sống con người. Chúa phán “Ta đã thấy dân ta phải khổ cực ở Ai-cập. Ta đã nghe tiếng chúng kêu than… Ta biết nỗi khổ đau của chúng, nên Ta xuống cứu chúng thoát khỏi tay người Ai cập và đưa ra khỏi đất ấy đến miền đất tốt tươi …” (Xh 3,7-8).

Chúng ta phải để cho những lời này vang lên trong tâm trí mình, để cảm nghiệm sự liên đới của Thiên Chúa với phận người. Ngài không bỏ rơi, không thờ ơ, nhưng Ngài thấy, nghe và biết, đồng thời Ngài cứu, và đưa tới miền tốt tươi.

Từ kinh nghiệm mong manh phận người, và từ niềm tin vào một Thiên Chúa yêu thương và giải cứu con người, tôi phải đi tới chỗ hoán cải, sám hối.

Sám hối là trở về Chúa, tức là tôi điều chỉnh cuộc đời tôi trong sự hiện diện của Chúa. Tôi làm gì cũng ý thức mình là con Chúa, thuộc về Chúa, và muốn ở trong Chúa. Tôi muốn sống đúng tương quan ấy. Điều này đòi tôi phải thay đổi nhân sinh quan, thay đổi quan niệm về cuộc sống của tôi.

Tin mừng Luca kể câu chuyện cây vả chưa ra trái, chủ vườn muốn chặt bỏ đi, nhưng người làm vườn xin gia hạn, để ông chăm bón thêm, nếu nó vẫn không ra trái, thì lúc ấy cây vả sẽ bị chặt bỏ, vì nó chẳng sinh ích gì (x. Lc 13,6-9). Cuộc đời mong manh và hữu hạn của chúng ta cũng như cây vả này. Nếu trong “hạn sử dụng” của tôi, mà tôi không sám hối, tôi không quay trở lại sống trong tương quan với Chúa, thì khi hết “hạn sử dụng”, tôi sẽ bị chặt bỏ, sẽ chết và mất hết ý nghĩa.

Mỗi người ngồi lại lặng yên để suy xét về thời gian của phận người, để biết tìm kiếm điều gì là vĩnh hằng, thay vì chỉ bám theo phù vân. Trở về với Thiên Chúa sẽ làm cho chúng ta đạt tới hạnh phúc thực sự, vì chỉ nơi Ngài, cuộc đời tôi mới không bị tan biến vào hư vô.

Ngày 18. THIÊN CHÚA CHẠNH LÒNG THƯƠNG

“Người con đứng lên, đi về cùng cha. Khi anh ta còn ở đàng xa, người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy lại ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để” (Lc 15,20).

Câu chuyện về người cha nhân hậu trong Lc 15 là một dụ ngôn về lòng thương xót của Thiên Chúa. Đây là một kinh nghiệm lớn mà chúng ta cần có, để có thể ra khỏi tình trạng hiện nay của mình, và có thể trở về cùng Thiên Chúa tình yêu.

Dụ ngôn mô tả một người cha có hai người con. Người con thứ xin cha chia gia tài, rồi bán tất cả, trẩy đi phương xa, ăn chơi phung phí, tiêu xài hết tiền của. Thật không may cho anh là lúc đó xảy ra nạn đói. Anh hết tiền và phải đi làm thuê. Làm cực khổ mà vẫn đói, nên anh ta hối hận, nghĩ về cha mình, và quyết định trở về với cha, để xin việc như người làm công mà thôi. Anh ta ý thức anh ta chẳng còn quyền gì nơi nhà của cha nữa.

Suy nghĩ về người con này, tôi thấy anh thật vô tâm với cha mình, khi anh còn ở với cha. Anh lại không thích ở cùng cha, anh không hề cảm nhận lòng tốt của cha, anh muốn đi tìm một cuộc đời độc lập; anh nghĩ là mình sẽ có tự do làm điều mình muốn.

Nạn đói làm anh tỉnh ngộ. Nó giúp anh ý thức lại lòng tốt của cha mình. Nó giúp anh ý thức về thực tế phũ phàng của tự do mà anh muốn, cũng như sự khắc nghiệt khi rời xa cha. Nạn đói là điều không ai muốn, nhưng lại có giá trị làm anh ta tỉnh ngộ.

Anh trở về, chỉ xin được đối xử như người làm công, nhưng cha anh ta lại nghĩ khác. Dường như ông luôn ngóng người con này về, nên ngay khi anh còn ở xa, người cha đã trông thấy, đã chạy lại ôm hôn con…, và hơn nữa, đã khôi phục lại vị trí của anh, anh là con chứ không phải là người làm thuê. Ông đã mở tiệc lớn.

Thái độ này của người cha làm cho người con cả – vốn vẫn ở nhà cùng cha – khó chịu và bực tức. Anh đòi cha phải đối xử công bằng. Anh ta có thể nghĩ rằng “thằng đó đã được chia phần, nó đã bán hết, giờ nó chẳng còn là gì ở trong cái nhà này, nên không được vác mặt về đây, thế mà cha lại mở tiệc mừng nó về, một tiệc lớn mà anh chưa bao giờ có được”.

Thái độ bực tức ấy có lẽ là phản ứng tự nhiên và xem ra rất công bằng, nhưng lại vắng bóng tình thương, vắng tình thân, tình anh em.
Người cha vẫn nhẫn nại khuyên anh ta nghĩ tới cái tình, và mời gọi anh ta trở vào nhà chung vui. Tin mừng bỏ ngỏ về quyết định của anh.

Xét đến cuộc đời tôi trong tương quan với Chúa. Có lẽ nhiều lần tôi vô tâm với Chúa như người con thứ bỏ đi xa. Tôi đã muốn được tự do theo ý riêng mình…, hoàn toàn không nghĩ gì đến Chúa. Tôi muốn xây dựng cuộc đời tôi mà không cần tới Chúa. Nhưng Chúa không bao giờ quên tôi, Ngài vẫn đang ngóng tôi trở về để ôm hôn tôi, dù tôi ở trong tình trạng nào.

Liệu tôi đã ý thức sự vất vả nhọc nhằn của tôi, để tôi tìm sự đỡ nâng của Chúa chưa? Tùy vào cảm nhận thực tế của tôi có thể đưa tôi tới gần Chúa.

Hoặc có lúc tôi như người con cả, tôi không cho một ai đó cơ hội thay đổi, tôi muốn đối xử theo lý, theo sự công bằng và vắng bóng tình thương. Tôi trở nên cay nghiệt, cố chấp…

Chúa luôn rộng lượng với mọi người, Ngài muốn, ngài nài van mọi người trở về với Chúa, để ở trong tình thương. Tôi xin ơn cảm nhận tình thương ấy, và đứng dậy trở về với Ngài, ngay từ hôm nay.

Ngày 17: “VIÊN ĐÁ BỊ LOẠI BỎ”

Viên đá bọn thợ loại ra, đã trở nên viên đá góc; đó là việc Chúa làm và là việc lạ lùng trước mắt chúng ta? (Mt 21,42)

Sách Sáng thế chương 37 ghi lại câu chuyện ông Giuse, một trong mười hai người con trai của ông Gia-cóp, bị chính anh em ruột của mình bán sang Ai-cập, vì lòng đố kỵ, ghét ghen. Việc loại bỏ Giuse làm cho những người anh em kia đỡ tức mắt, ông như cái gai vì được cha họ thương hơn. Lòng ghen ghét dẫn tới loại bỏ người anh em mình.

Tin mừng Mattheu, chương 21, thuật lại dụ ngôn những tá điền giết chết nhiều đầy tớ của chủ đất, hết người này tới người khác, để không trả chủ đất phần hoa mầu phải trả. Ông chủ đất rất kiên nhẫn và đã sai chính con mình tới thu hoa lợi, và nghĩ rằng họ sẽ nể con mình; tuy nhiên, họ giết luôn cả đứa con thừa tự của ông chủ, để chiếm thửa đất ấy. Chính lòng tham và sự vô ơn đã đẩy họ tới việc loại trừ người làm ơn cho mình.

Trong cuộc đời chúng ta, có những lần chúng ta cũng bị chi phối bởi lòng ghét ghen, lòng tham và thói vô ơn. Chúng ta có thể đã loại trừ người này kẻ nọ, dưới các hình thức khác nhau: hoặc bằng lời nói chê bai, hoặc bằng hành vi xấu gây hại, hoặc bằng tư tưởng cách ly, cô lập…; khi làm vậy, chúng ta nghĩ là lòng mình được thanh thản, là làm cho lòng tham được thỏa mãn. Nhưng sự thực không như vậy.

Đôi khi, chính chúng ta lại trở thành nạn nhận của việc ghen ghét và loại trừ. Lúc ấy, chúng ta không vui vẻ gì, hoặc có những sự thù hận âm ỉ trong lòng, chờ ngày bùng nổ và báo oán; hoặc chúng ta rơi vào khép kín, tự ti mặc cảm.

Là tác nhân hay nạn nhân của sự loại trừ do ghen ghét đố kỵ, hay do lòng tham, đều đưa tới đổ vỡ, thù hận và chia rẽ.

Dù bị loại trừ, nhưng Quyền năng Thiên Chúa có sức biến đổi mọi hậu quả của sự loại trừ này. Giuse bị bán sang Ai cập, lại trở nên vị tể tướng dưới triều Pha-ra-ô, và trở nên người cứu đói, cứu sống cho cả gia đình. Giê-su bị chính dân Chúa kết án và giết chết, lại trở thành vị Cứu Độ cho toàn thể Israel nói riêng và nhân loại nói chung. Đó chính là “việc Chúa làm và là việc lạ lùng trước mắt chúng ta”.

Từ kinh nghiệm về quyền năng ấy, tôi cần nhìn cuộc đời tôi cách mới mẻ: Việc xấu tôi làm để loại trừ người khác không nhất thiết làm tôi thanh thản và ý tôi được thỏa mãn. Vì vậy, tôi không nên tiếp tục việc xấu ấy nữa. Hoặc khi tôi bị loại trừ, không nhất thiết là tôi trở nên con người bị bỏ đi, bị mất hết nhuệ khí; trái lại, Thiên Chúa có thể đang huấn luyện tôi và làm cho tôi trưởng thành theo hướng khác, trở nên chính mình hơn, giúp ích cho nhiều người hơn.

Với niềm tin vào Chúa, tôi được mời gọi ra khỏi lối mòn suy nghĩ nhiễm mùi trần thế, bị lòng tham và thói ghen tương đố kỵ chi phối. Tôi bước vào một lối nhìn của niềm tin, niềm tin vào quyền năng Thiên Chúa vẫn tiếp tục dẫn đưa thế giới này.

Ngày 16: THIÊN CHÚA THẤU SUỐT CÕI LÒNG

“Lòng người nham hiểm khôn dò, nào ai biết được? Còn Ta, Ta là Chúa, Ta thấu suốt tâm hồn và dò xét tâm can, thưởng phạt mỗi người tùy theo cách sống và hậu quả hành vi của họ” (Gr 17,9-10)

Liên quan tới lòng người, tức là những tâm tư, suy nghĩ thầm kín bên trong của mỗi người, chúng ta thật khó có thể dò thấu được. Lòng người sâu thẳm khó dò!

Những câu nói như “miệng nam mô, bụng bồ dao găm”, hoặc “nói vậy mà không phải vậy”, hoặc “mật ngọt chết ruồi” đều ám chỉ tới sự bất nhất giữa lòng người và cách biểu lộ bên ngoài. Vì thế, nhiều khi chúng ta không hiểu người đối thoại với ta nghĩ gì, muốn điều gì.

Hoặc nữa, trước một việc chúng ta không thể làm sáng tỏ được, người ta thường nói “trời biết, đất biết và mình biết”, hoặc “không thể dối lòng”. Xem ra, dù người khác không biết được bụng ta đang nghĩ gì, nhưng không vì thế mà nó không bị chất vấn, vì có trời biết và mình biết.

Kinh thánh trình bày một kinh nghiệm về Thiên Chúa thấu suốt lòng người:
“Lạy Chúa, Ngài dò xét con và Ngài biết rõ,
biết cả khi con đứng con ngồi,
con nghĩ tưởng gì, Ngài thấu suốt từ xa,
đi lại hay nghỉ ngơi, Chúa đều xem xét,
miệng lưỡi con chưa thốt lên lời, thì lạy Chúa, Ngài đã am tường hết” (Tv 139)

Đứng trước một Thiên Chúa biết rõ lòng tôi, tôi không thể cứ làm ngơ mà tiếp tục dấn thân trong sự tội, sự xấu.
Ngay khi tôi làm điều xấu, hoặc có toan tính xấu, chính lòng tôi đã biết. Nếu lòng tôi đã biết, thì Thiên Chúa còn thấu tỏ hơn chừng nào.

Thiên Chúa không đánh giá chúng ta theo vẻ bề ngoài, cũng chẳng theo chức vụ địa vị, tiền tài và khả năng. Nhưng Ngài đánh giá chúng ta theo ý ngay lành, lòng thương cảm, tình mến của một tâm hồn.

Câu chuyện người phú hộ và anh La-da-rô nghèo trong Tin mừng Lc 16,19-31 cho thấy điều đó. Anh phú hộ ăn sung mặc sướng, nhưng vô tâm với người nghèo đói bệnh tật, có thể được trọng vọng ở đời, nhưng lại bị trừng phạt sau khi chết. Còn anh La-da-rô nghèo đói, bị coi thường, bị hất hủi ở đời này, lại được vinh dự trong lòng tổ phụ Abraham, tức là được ở trong Nước Trời. Số phận bị đảo lộn.

Còn tôi? Thiên Chúa biết rõ lòng tôi, tôi sẽ phải thay đổi suy nghĩ từ trong lòng tôi như thế nào, để tôi khỏi phải chịu phạt? Có thể tôi bị nhiễm bởi thói đời, sự khôn lanh thế gian đến mức tâm hồn trở nên chai đá, nguội lạnh, vô cảm.

Tuy nhiên, lương tâm vẫn mách bảo tôi, đôi khi dằn vặt tôi. Đó là tiếng nói từ bên trong đang đòi tôi thay đổi. Đó là tiếng nói Thiên Chúa đặt để trong lòng tôi để chất vấn khi tôi làm điều xấu và khích lệ tôi khi tôi làm điều tốt.
Tôi phải cẩn thận nghe theo tiếng lương tâm, để dần dần mở ra với tiếng Chúa. Đó là con đường đưa tôi tới nguồn sống đích thực, cho dù tôi phải trải qua phong ba bão táp, thậm chí cả nghịch cảnh ở cuộc sống này.