Ngày 37. GIỮ LỜI CHÚA

Đức Giê-su nói: “Ai tuân giữ lời tôi, thì sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 8,51)

Thân phận con người được đều theo một quy luật “sinh – lão – bệnh – tử”. Có sinh ắt có tử, nên cái chết xem ra là một điều hiển nhiên. Ai cũng phải trải qua cái chết. Tuy nhiên, trong cái nhìn của tôn giáo, cuộc đời không đơn thuần được cân đo đong đếm bằng những điều kiểm chứng được bằng giác quan. Với cái nhìn của niềm tin, cuộc sống con người hiện tại như một sự chuẩn bị cho cuộc đời mới, đời sống sau khi đã chết.

Người tin vào Thiên Chúa không tin con người có nhiều kiếp sống ở trần gian này. Đời sau hay “kiếp sau” trong niềm tin Ki-tô giáo là chung cục, là đích đến có tính vĩnh cửu. Được vào nơi hạnh phúc Nước Trời, hay trầm luân hỏa ngục chịu khổ đều là vĩnh viễn. Cho nên cuộc sống này như chuẩn bị cho cuộc sống vĩnh viễn ấy. Đó là “nơi về” đích thực. Câu nói “sống gởi thác về” là như vậy.

Tuy nhiên, niềm tin vào sự sống vĩnh cửu ấy không dễ được hiểu và đón nhận, vì nó nằm ngoài sức tưởng tượng của chúng ta. Đó là một “thế giới” của niềm tin. Niềm tin này được đặt nền trên sự phục sinh của chính Đức Giê-su. Ngài đã phục sinh và mở đường vào sự sống đời đời cho toàn thể nhân loại.

Với người Do thái, họ tin vào Thiên Chúa. Phần thưởng của việc giữ giao ước với Chúa là được Chúa chúc lành cho đời sống hiện tại, được cư ngụ trong vùng đất Chúa hứa ban. Nhưng họ chưa hẳn đã đi tới niềm tin vào sự phục sinh.

Đức Chúa phán cùng Abraham: “Phần ngươi, hãy giữ giao ước của Ta, ngươi và dòng dõi ngươi sau này, từ thế hệ này qua thế hệ khác” (St 17,9).

Đức Giê-su lại nói tới việc “không bao giờ phải chết” như là phần thưởng cho những kẻ tin vào lời của Ngài. Đây là một điều quá sức tưởng tượng đối với người Do thái, bởi vì từ trước tới nay, chưa có ai sống mãi mãi, ngay cả với tổ phụ Abraham là tổ phụ của họ trong niềm tin. Chính vì thế, họ đã chống đối và muốn ném đã Đức Giê-su.

Trong diễn từ của Đức Giê-su, Ngài cho thấy Ngài là Đấng Hằng Hữu (Ga 8,58). Đây là đặc tính riêng thuộc về Thiên Chúa. Chính Ngài là Lời Thiên Chúa đến với loài người để hướng dẫn, dạy dỗ chúng ta. Lời của Ngài có sức biến đổi chúng ta, không phải giúp chúng ta sống tốt hơn, nhưng đưa chúng ta tới chỗ chiến thắng cái chết. Thân phận con người là phải chết, nhưng nhờ quyền năng phục sinh của Đức Giê-su, con người sẽ bước vào sự sống vĩnh cửu.

Phần thưởng cho những người sống theo Lời Chúa là vĩnh cửu, và đương nhiên, hệ quả cho những người tội lỗi cũng là vĩnh cửu. Cho nên, cuộc sống hiện nay là cơ hội chọn lựa của chúng ta, là thời gian chúng ta chuẩn bị cho “nơi về” có tính vĩnh cửu của chúng ta. Hãy mở lòng để đón nhận sự sống vĩnh cửu của Chúa Giê-su cho cuộc đời mai sau của chúng ta, qua việc lắng nghe và tuân giữ lời của Chúa Giê-su.

 

Đề tài 3. NÊN THÁNH

Khi nhìn ngắm đường phố, chúng ta có thể thấy dòng người xuôi ngược, mỗi người đang muốn đi tới đích của mình: có thể là về nhà, có thể là đi ăn uống, đi đón con… Mỗi người trong đám đông xuôi ngược đó đều có đích. Ngồi trong nhà thờ tham dự tĩnh tâm hôm nay, đâu là đích của tôi?

Vào tháng 4 năm 2018, ĐTC Phanxico đã công bố tông huấn Gaudete et Exultate (G.E – Vui mừng hân hoan). Tông huấn này mời gọi chúng ta hướng về cùng đích của chúng ta, đó là nên thánh. Lời mời gọi của tông huấn là một thách đố cho chúng ta trong giai đoạn mới này.

Lời mời gọi nên thánh

Nên thánh luôn là lệnh truyền của Thiên Chúa: “Các ngươi phải thánh thiện, vì Ta, Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi, Ta là Đấng Thánh” (Lv 19,2). Đức Giê-su đến kiện toàn Lề Luật xưa. Trong bài giảng khai mạc sứ vụ của Ngài, Ngài mời gọi chúng ta “nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48).

Công đồng Vaticano II nói rõ: “Được củng cố bởi rất nhiều phương tiện cứu rỗi lớn lao như thế, tất cả mọi tín hữu, bất kể ở điều kiện hay bậc sống nào đều được Chúa mời gọi – mỗi người theo cách của riêng mình – đến sự thánh thiện trọn lành như chính Cha trên trời là Đấng trọn lành” (G.E số 10).

Gương thánh thiện

Đức Thánh Cha Phanxico nêu ra các gương thánh thiện thời xưa, được thư gởi tín hữu Do thái đề cập trong chương 11, như các ông Abel, ông Kha-nốc, ông Nô-ê, ông Abraham, bà Sara, ông Isaac, ông Giuse, ông Mô-sê…. Họ kết thành các đám mây thánh thiện, họ nên thánh nhờ lòng tin vào Thiên Chúa và bước đi trong sự tín thác vào Ngài.

“Những chứng nhân này có thể bao gồm các bà mẹ, các bà nôi ngoại của chúng ta, hoặc những người thân yêu khác (2 Tm 1,5). Cuộc sống của họ không phải lúc nào cũng hoàn hảo, nhưng ngay cả giữa những lỗi lầm và thất bại của họ, họ vẫn tiếp tục tiến bước và tỏ ra rất đẹp lòng Chúa” (G.E, số 3)

“Tôi thích chiêm ngưỡng sự thánh thiện hiện diện trong các sự kiên nhẫn của dân Thiên Chúa: nơi những cha mẹ nuôi nấng con cái họ với tình thương yêu bao la, nơi những người nam nữ làm việc chăm chỉ để nuôi sống gia đình, nơi người bệnh tật, nơi các tu sĩ già cả mà không bao giờ mất nụ cười của họ” (G.E, số 7)

Cách thức sống thánh thiện

“Để nên thánh không buộc phải là một giám mục, một linh mục hay một tu sĩ…. Tất cả chúng ta đều được mời gọi nên thánh bằng cách sống cuộc đời với tình yêu và bằng cách làm chứng trong mọi công việc mình làm, ở bất cứ nơi nào mình sống… Hãy nên thánh bằng cách sống quyết tâm của mình với niềm vui.” Với người sống đời gia đình, nên thánh “bằng cách yêu thương và chăm sóc cho chồng hay vợ mình, như Đức Ki-tô đã chăm sóc cho Hội Thánh”. Với người đi làm, nên thánh “bằng cách làm việc với sự liêm chính”. Với người là ông là bà, nên thánh “bằng cách kiên nhẫn dạy dỗ con cháu theo Chúa Giê-su”. Với người cầm quyền, nên thánh “bằng cách làm việc cho công ích và từ bỏ lợi ích cá nhân” (x. G.E số 14).

ĐTC đưa ra một ví dụ cụ thể ở số 16: “một phụ nữ đi mua sắm, chị ấy gặp một người hàng xóm và họ bắt đầu nói chuyện, và việc bép xép bắt đầu. Nhưng chị ấy tự nhủ trong lòng: “không, tôi sẽ không nói xấu ai cả”. Đây là một bước tiến trong sự thánh thiện. Sau đó, ở nhà, một trong những đứa con của chị muốn nói chuyện với chị về những hy vọng và ước mơ của nó, và mặc dù mệt mỏi, chị ấy ngồi xuống và lắng nghe với sự kiên nhẫn và tình yêu. Đó là một sự hy sinh khác mang lại sự thánh thiện. Sau đó, chị trải qua một vài âu lo, nhưng nhớ lại tình yêu của Mẹ Maria, chị lấy tràng hạt ra và cầu nguyện bằng đức tin. Một con đường nên thánh khác. Rồi chị ra đường, gặp một người nghèo và dừng lại để nói một lời tử tế với người ấy. Thêm một bước nữa”. (G.E số 16)

ĐTC cũng trích gương thánh thiện của ĐHY Phanxico Xavier Nguyễn Văn Thuận: “Khi ĐHY F.x Nguyễn Văn Thuận bị tù, ngài đã không chịu lãng phí thì giờ chờ đợi ngày ngài được trả tự do. Thay vào đó, ngài đã chọn “sống giây phút hiện tại, và làm cho nó đầy tình thương”. Ngài quyết định: “Tôi sẽ nắm lấy những cơ hội hiện diện mỗi ngày; tôi sẽ hoàn thành các hành động bình thường một cách phi thường” (G.E số 17).

Với những trích dẫn trên, chúng ta thấy, nên thánh là một lệnh truyền, một lời mời gọi của Chúa cho tất cả chúng ta, dù ở trong bậc sống, hoàn cảnh sống nào. Có rất nhiều con đường nên thánh tùy thuộc vào mỗi người.

Chọn lựa sống tinh thần Tin Mừng

Điểm chung của nên thánh là phải chọn lựa. Để lựa chọn đúng, chúng ta luôn lấy đích nhắm là nên thánh. Và trong hoàn cảnh của riêng tôi, tôi phải làm cái gì, làm như thế nào, để đạt được đích nhắm đã vạch ra.

Ví như một người phụ nữ muốn giữ vóc dáng của mình, cô ấy phải chọn lựa thức ăn, khẩu phần ăn, chế độ tập tành như thế nào. Có những món ăn ngon, món thích thú, nhưng cô không dám ăn, vì nếu ăn vào sẽ mất dáng, cô đã chọn lựa. Hoặc có những thức ăn chua chát, không hấp dẫn cho khẩu vị, nhưng cô vẫn ăn, để đạt được mục tiêu đã đề ra. Đó là chọn lựa.

Để đạt được mục tiêu là đời sống thánh thiện, chúng ta phải luôn hướng về Chúa, tìm sức mạnh nơi Chúa, đồng thời cố gắng sống theo lời Chúa trong hoàn cảnh của riêng mình. Để được vậy, nhiều khi chúng ta phải bỏ qua những thú vui trần thế, những môi trường tội lỗi, những hoàn cảnh gây dịp tội…, đồng thời năng tập nhân đức, sống hy sinh, vị tha…

Nên thánh không phải chỉ dựa vào sức lực riêng của chúng ta. Điều thật hạnh phúc là Chúa mời gọi chúng ta đi vào con đường này và Ngài luôn trợ giúp chúng ta quan ân sủng của Giáo hội. Các lời giáo huấn của Giáo hội soi sáng cho chúng ta, các bí tích chữa lành và thêm sức cho chúng ta. Ơn Chúa vẫn tuôn đổ trên chúng ta. Chỉ cần chúng ta quyết tâm đi vào hành trình tiến về đích của đời Ki-tô hữu, Chúa sẽ đồng hành và trợ giúp chúng ta khi cần.

Lm. Giuse Trịnh Duy Suýt S.J

Ngày 36. SỰ THẬT SẼ GIẢI THOÁT

“Nếu các ông ở lại trong lời của tôi, thì các ông thật là môn đệ tôi; các ông sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng các ông” (Ga 8,32)

Đây là điều mà Đức Giê-su đã nói với các người Do thái trong cuộc tranh luận về căn tính của Ngài. Ngài là Đấng đem ánh sáng và sự thật đến cho trần gian. Sự thật đó sẽ giải thoát con người. Tuy nhiên, khi đề cập tới sự giải thoát, thì người Do thái nghĩ ngay tới ách nô lệ: “chúng tôi là dòng dõi Abraham, chúng tôi không làm nô lệ cho ai bao giờ” (Ga 8,33). Đức Giê-su đẩy cuộc tranh luận lên cao trào, và chỉ ra tình trạng nô lệ vào tội: “hễ ai phạm tội thì làm nô lệ cho tội” (Ga 8,34).

“Nô lệ cho tội” diễn tả sự phụ thuộc của con người vào tội. Mọi sự lệ thuộc đều làm cho con người mất tự do. Xét như vậy, con người bị lệ thuộc vào nhiều thứ quá: lệ thuộc vào thế gian, lệ thuộc vào đam mê xác thịt, lệ thuộc vào danh vọng trần thế… Sự lệ thuộc giam hãm con người. Ví dụ: dục vọng giam hãm con người trong thú vui thân xác; tiền tài giam hãm con người trong thói tham lam, ích kỷ; danh vọng giam hãm con người trong thói hám danh, hám quyền. Khi bị chi phối như vậy, con người trở nên nô lệ cho chính dục vọng, danh vọng và tư lợi của mình.

Gặp gỡ được Giê-su sẽ đưa đến giải thoát, vì Đức Giê-su đưa chúng ta thấy rõ chính mình, thấy rõ đâu sự thật về mình, đâu là điểm phải đến. Đức Giê-su đưa chúng ta nhận ra sự ảo vọng nơi giá trị trần gian. Chỉ khi chúng ta thấy rõ, chúng ta mới có thể đưa tới một chọn lựa đúng, một thái độ đúng, và chúng ta sẽ được giải thoát.

Câu chuyện được tiên tri Đaniel thuật lại về ba cậu bé Sidrach, Misach và Abdenago bị vua Nabucodonosor bắt phải thờ lạy tà thần, cho chúng ta kinh nghiệm về một Thiên Chúa giải thoát (Đn 3). Ba cậu bé muốn trung thành với niềm tin vào Chúa, nên đã không nghe lời nhà vua. Nhà vua đã ném các cậu vào lò lửa, để xem có ai cứu không. Lò lửa được đốt lên, và các cậu bị ném vào. Tuy nhiên, niềm tin của các cậu đã không bị thất vọng. Thiên Chúa đã sai thiên thần đến bảo vệ các cậu, và cho các cậu được an toàn. Nhà vua hết sức sửng sốt và đã chúc tụng Đức Chúa. Câu chuyện này cho chúng ta thấy rằng Thiên Chúa là Đấng giải thoát kẻ cậy trông vào Ngài. Ngài cũng giải thoát cả nhà vua, đại diện cho những người vốn tin tưởng vào quyền lực trần gian, thoát khỏi ảo vọng quyền lực của mình, và đưa tới sự thật về quyền năng tuyệt đối và đích thực nơi Thiên Chúa.

Đức Giê-su đến trần gian, giải thoát con người chúng ta, không phải bằng việc thi thố quyền năng tuyệt đối trên. Nhưng Ngài giải thoát chúng ta từ chính thân phận con người. Qua lời giáo huấn của Ngài, qua lối sống của Ngài, chúng ta có thể thấy được đâu là giá trị đích thực.

Nhờ việc Ngài chia sẻ phận người với chúng ta, và nhờ cuộc khổ nạn của Ngài, chúng ta tìm thấy nơi Ngài con đường, tìm thấy ánh sáng cho đời sống của chúng ta. Để được giải thoát, chúng ta cần mở lòng đón nhận sự thật của Ngài. Khi đón nhận như thế, chúng ta cũng phải bước đi vào con đường Ngài đã đi, con đường đón nhận thập giá vì yêu thương. Con đường ấy đòi buộc chúng ta chết đi cho giá trị trần gian, hay đúng hơn là, chúng ta được thoát khỏi giá trị trần gian, để tiến bước vào giá trị của Nước Trời.

Mỗi người chúng ta hãy dừng lại, nhìn lại đời sống mình, những bận tâm lo lắng đang chi phối tâm trí mình, xem mình đang bị vướng, bị lệ thuộc vào điều gì? Sự bận tâm đó đang giam hãm tôi như thế nào? Nó có thực sự giúp ích cho đời sống của tôi? Hãy mở ra đón nhận sự thật của Giê-su, tôi sẽ được giải thoát.

Đề tài 2. SÁM HỐI LÀ SỐNG ĐÚNG CĂN TÍNH

Căn tính thuộc về bản chất của một con người không thể thay đổi được. Căn tính là cái gì thuộc riêng về mỗi người, và làm nên điều khác biệt với người khác. Ví dụ như tôi là con của bố mẹ tôi, cái này không thể thay đổi được. Nó là điều thuộc riêng về tôi.

Đối với người tin vào Thiên Chúa, căn tính của con người hệ ở chỗ con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, và giống Thiên Chúa (St 1,27). Con người mang trong mình sinh khí của Thiên Chúa (St 2,7). Người Việt chúng ta nói “thở hắt ra” để nói về cái chết, thân xác dù mạnh khỏe tới đâu cũng trở nên bất động. Hơn nữa, với mặc khải nơi Đức Giê-su, chúng ta được phúc trở nên con cái Thiên Chúa. Bí tích rửa tội ghi dấu ấn mãi mãi trên cuộc đời ta, và không thể thay đổi được. Ngoài ra, đối với người sống trong bậc vợ chồng, bí tích hôn phối cũng làm cho vợ chồng mang căn tính mới, thuộc về nhau trọn đời.

Khi con người không sống đúng căn tính của mình, thì họ sẽ rơi vào tình trạng tội lỗi và tha hóa. Để biểu đạt điều này, chúng ta cùng trở về với trình thuật về tội của Adam và Eva, như khởi đầu của loài người.

Con người được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa, và mang trong mình sinh khí của Chúa. Họ được Chúa đặt vào vườn Ê-đen, là nơi hạnh phúc, nơi mà con người sống hòa thuận với thiên nhiên, nơi mà Thiên Chúa vẫn hiện đến đi dạo với con người, nơi mà mọi thứ cây trong vườn đó đều “trông thì đẹp, ăn thì ngon” (St 2,6). Nếu con người cứ sống như vậy, thì tình trạng hạnh phúc đó đã không bị mất.

Tuy nhiên, trong cái vườn hạnh phúc ấy lại có một luật cấm: cấm Adam và Eva ăn trái cây trường sinh và cây biết thiện ác; ngày nào ăn trái cây đó, ông bà sẽ phải chết. Có lẽ chúng ta muốn nơi khu vườn hạnh phúc ấy không có luật lệ gì nữa, con người muốn làm gì thì làm. Tuy nhiên, chúng ta không nên tưởng một nơi hạnh phúc mà không có luật lệ, bởi vì luật lệ bảo tồn và duy trì sự sống. Chúng ta có thể lấy ví dụ về giao thông, nếu người ta đi lại không theo luật lệ, ai muốn đi thế nào thì đi, thì không ai có thể đi được. Luật giao thông giúp người ta có thể lưu thông được. Hoặc ví dụ khác về luân lý, mọi nền văn hóa đều cấm sự loạn luân. Nếu không có sự cấm đoán này, thì không còn hình thức gia đình nữa, con người lúc ấy lại trở nên giống loài chó, loài gà, loài vật. Luật cấm làm cho con người có thể sống được.

Cây trường sinh và cây biết điều thiện ác ở giữa vườn là thuộc riêng về Thiên Chúa. Chỉ có Chúa là Đấng toàn hữu và toàn tri, là Đấng sáng tạo. Con người là thụ tạo được dựng nên, có giới hạn của thụ tạo. Hai cây ở giữa vườn trở nên biểu tượng của Thiên Chúa, và luật cấm như là ranh giới giữa Thiên Chúa và con người. Nếu con người giữ đúng ranh giới này, họ sẽ được sống. Nếu vi phạm ranh giới, con người sẽ phải chết.

Khi con người tin tưởng vào Thiên Chúa, thì tôn trọng luật cấm trên, nhưng khi thiếu tin tưởng, con người sẽ nghi ngờ tình thương của Thiên Chúa, và muốn loại trừ Thiên Chúa ra khỏi cuộc đời mình. Con người muốn làm chủ đời mình, muốn tách mình ra khỏi Thiên Chúa. Con người luôn bị cám dỗ vượt qua ranh giới trên.

Khi bị cám dỗ, người ta sẽ bị thu hút vào điều đang cám dỗ mình, chỉ thấy nó “trông thì đẹp, ăn thì ngon”, và không thấy điều xung quanh nữa. Eva bị cám dỗ vượt qua ranh giới, vì nghĩ rằng “trái cây này thật đáng quý, vì nó làm cho mình nên như những vị thần, biết điều thiện ác” (St 3,6). Tức là con người muốn đặt mình vào chính vị trí của Thiên Chúa.

Khi vượt qua ranh giới, con người nhận thấy sự thật phũ phàng: thấy mình trần truồng, xấu hổ, sợ hãi phải giáp mặt Đức Chúa. Hơn nữa, tương quan của họ bị đổ vỡ. Trước đây, Adam coi Eva là “xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi, nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì được rút ra từ đàn ông” (St 2,23), tương quan thuộc về nhau, và đầy thân thương. Nhưng khi phạm tội, tương quan thuộc về nhau không còn nữa. Adam không còn coi Eva được rút ra từ mình nữa, mà chỉ còn là “người nữ mà Chúa đặt ở với con” thôi (St 3,12). Xem ra Adam đã đổ lỗi cho cả Chúa.

Vì không sống đúng căn tính của mình, họ đã phải khám phá ra sự trần trụi của phận người, bị đẩy ra khỏi nơi của hòa thuận, để rơi vào nơi thống trị nhau, và đất đai cũng trở nên gai góc. Cuối cùng họ sẽ phải chết. Đó là hệ quả của tội, của việc vượt qua ranh giới, không sống đúng căn tính của mình.

Chúng ta có thể suy xét về căn tính của mỗi người chúng ta, để xem có khi nào chúng ta sống không đúng căn tính đó, và hậu quả như thế nào.

Là vợ chồng Ki-tô giáo, sự ràng buộc bởi lời thề hứa chung thủy trọn đời, trong bất cứ hoàn cảnh nào, làm thành căn tính của vợ chồng. Khi sống chung thủy như thế, họ sẽ phải giữ lời thề hứa, nhưng phần thưởng là hạnh phúc trong gia đình. Nếu một hoặc hai người vượt qua ranh giới, vi phạm lời thề hứa, sẽ gây ra đau khổ trong hôn nhân, và gia đình có nguy cơ bị phá vỡ.

Con cái phải thảo kính cha mẹ, và phụng dưỡng cha mẹ trong lúc tuổi già, chăm sóc cha mẹ lúc đau yếu. Sự thảo kính này ở điều răn thứ tư trong mười điều răn, và là điều răn đứng đầu trong các điều răn liên quan tới tương giao giữa người với người. Nếu con cái lỗi phạm điều răn này, không sống đúng căn tính là con cái, họ sẽ làm cha mẹ đau buồn.

Là linh mục, tu sĩ, lời khấn làm nên căn tính của đời tu. Nếu vượt qua ranh giới này, không giữ căn tính của đời tu, họ sẽ cảm thấy tội lỗi và bất an. Đời dâng hiến gặp nhiều đau khổ.

Là người con cái Thiên Chúa, nếu không liên kết với Chúa, và không sống theo điều Chúa dạy, họ sẽ mất phương hướng, và trở thành “con hoang”, thành con cái thế gian…

Sám hối là quay trở lại với căn tính của mình và sống đúng căn tính ấy. Để sống đúng căn tính này, con người phải tuân giữ giới răn liên quan tới đời sống của mình. Có lẽ họ sẽ cảm thấy nặng nề khi giữ luật và bị cám dỗ vượt ranh giới, nhưng khi can đảm chiến đấu để sống đúng căn tính, họ sẽ bị mất mát trước mắt, nhưng mất mát đó lại giúp họ có thể sống và sống trong tình trạng hạnh phúc thực sự.

Lm. Giuse Trịnh Duy Suýt S.J.

Đề tài 1. YÊU CHO ĐẾN CHẾT

Mùa chay là thời gian hồng ân đặc biệt, giúp người tín hữu suy niệm và đào sâu hành trình thương khó của Chúa Giê-su, để cảm nghiệm được tình yêu vô bờ của Thiên Chúa, nhằm cứu cứu độ loài người.

Cuộc thương khó cứu độ và phục sinh vinh quang của Chúa Giê-su phải đi qua con đường thập giá. Nhiều người cảm thấy khó kết hợp giữa sự toàn năng của Thiên Chúa và cái chết đầy nhục nhã của Con Ngài. Tuy nhiên, trong cái nhìn của tình yêu, chúng ta nhận thấy rằng cái chết của Chúa Giê-su là con đường tất yếu của tình yêu và để diễn tả tình yêu. Yêu là phải chết.

Để hiểu thêm điều này, chúng ta có thể suy niệm tên được báo trước của Chúa Giê-su Ki-tô. Ngài là Đấng Emmanuel – Thiên Chúa ở cùng chúng ta.

Để hiểu việc ở cùng này, chúng ta có thể lấy hình ảnh của tình yêu hôn nhân và gia đình, nhất là trong bối cảnh của năm phụng vụ 2019, Giáo hội Việt nam muốn đồng hành cùng các gia đình.

Khi hai người trẻ yêu nhau, biểu hiện đầu tiên của họ là muốn được ở cùng nhau. Mọi suy nghĩ của họ luôn hướng về nhau, muốn làm cho nhau được vui, được hạnh phúc. Nếu thời gian hoặc không gian không cho phép họ ở cùng nhau, họ sẽ luôn hướng về nhau trong tâm trí và sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại để sống mối tương quan ấy.

Vì yêu nhau và muốn ở cùng nhau, nên những người yêu nhau biết nhau cách sâu đậm. Họ biết và muốn chia sẻ với nhau những mơ ước, nhưng bận tâm, những khó khăn. Người này đón nhận những ước mơ, bận tâm và khó khăn của người kia như của mình, và muốn làm cho những ước mơ thành sự thật, còn những bận tâm và khó khăn được giải quyết.

Khi yêu nhau, họ không chỉ dừng lại ở việc quan tâm chăm sóc cho người yêu của mình, mà còn quan tâm tới tình trạng gia đình, bối cảnh văn hóa của người mình yêu nữa… Để làm được tất cả những điều đó, họ phải luôn hướng về người mình yêu, và chấp nhận hy sinh cho người ấy.

Thiên Chúa yêu chúng ta, Con của Ngài đã đến ở cùng chúng ta, ngài biết chúng ta và hy sinh tất cả vì chúng ta. Thánh Phao-lô tông đồ diễn tả điều này trong thư gởi tín hữu Philiphê:

‘Đức Giê-su Ki-tô, vốn dĩ là Thiên Chúa, mà Ngài không nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, và sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2, 6-8).

Sự hạ mình này đã thấy ngay trong tên của Ngài. Ngài là Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Ở cùng để chia sẻ thân phận con người với chúng ta, nên giống chúng ta mọi đàng, ngoại trừ tội lỗi. Ở cùng chúng ta để cho chúng ta tham dự vào bản tính thần thiêng của Ngài.

Vì yêu chúng ta, nên ngài thấu biết cõi lòng chúng ta. Ngài biết chúng ta cần gì trước khi chúng ta cầu xin ngài. Ngài biết cả những ước mơ trần thế của chúng ta để biến đổi. Ngài cảm thương nỗi vất vả đớn đau của những người đau khổ… Ngài trở thành Chiên Thiên Chúa chết thay cho cả nhân loại tội lỗi. Tất cả chỉ vì tình yêu.

Trước khi bước vào cuộc thương khó, Ngài đã lập chức linh mục. Linh mục là hiện thân của Chúa Giê-su, được lập nên để “làm chính những việc của Chúa đã làm khi còn ở trần gian”. Nhờ các linh mục, Chúa Giê-su tiếp tục ở lại cách hữu hình nơi cộng đoàn Giáo hội.

Sau khi phục sinh, Ngài ra lệnh truyền cho các môn đệ đi rao giảng, và Ngài nhấn mạnh “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”.

Tình yêu ở cùng là một tình yêu tự hiến hoàn toàn vì người mình yêu. Mỗi người ở trong chức phận của mình đều có thể có kinh nghiệm này:

Là mục tử, kinh nghiệm ở cùng và yêu cho đến chết khi người linh mục dành tất cả bận tâm, ưu tư và sức lực cho đoàn chiên được trao phó. Người mục tử đó “mang vào mình mùi chiên”, mang lấy những đau khổ và chờ đợi của đoàn chiên làm chờ đợi và đau khổ của mình, để “giảng dạy, tha thứ, yên ủi” đàn chiên và tế lễ thay cho đoàn chiên. Vì yêu đoàn chiên, nên linh mục tiêu hao đời mình cho đến chết.

Người sống đời gia đình có kinh nghiệm ở cùng khi chia sẻ với nhau những bận tâm, người này mang vào mình bận tâm của người kia: bận tâm về sức khỏe, về gia đình, về bố mẹ…, để rồi có thể cảm thông, chia sẻ và nâng đỡ. Khi lo lắng cho nhau như thế, người người này đã “chết vì yêu” cho người kia. Yêu là phải đi tới cái chết. Cũng vậy, cha mẹ yêu con cái, chăm lo điều tốt nhất cho con cái, nên đã chết cho con cái.

Thiên Chúa yêu thương ta, ở cùng ta, muốn chúng ta được sống, nên Ngài phải đi vào cái chết. Ngài chết không phải vì Ngài yếu, nhưng vì Ngài yêu. Cái chết biểu lộ sức mạnh của Ngài. Nhờ cái chết của ngài, chúng ta được giải thoát và bước vào sự sống, hạnh phúc đích thực.

Lm. Giuse Trịnh Duy Suýt S.J

Ngày 35. NHÌN LÊN GIÊ-SU

“Khi nào các ông đưa Con Người lên cao, các ông sẽ nhận biết ta là ai”. (Ga 8, 28).

Lời rao giảng của Chúa Giê-su đụng chạm vào sâu thẳm cõi lòng của con người. Lời ấy như ánh sáng chiệu rọi vào những vùng tối tăm của tâm hồn con người, và làm cho con người bị phanh phui trước sự thật về mình, trước những ảo tưởng và tinh thần thế gian đang chế ngự tâm hồn mình.

Những ai mở lòng đón nhận ánh sáng của lời Chúa, họ sẽ được ánh sáng ấy dẫn đi trong đường sự sống. Trái lại, nhiều người sống trong bóng tối, sống theo tinh thần thế gian và tìm kiếm giá trị trần gian, sẽ gặp phải thách đố và không chấp nhận Chúa Giê-su. Ngài trở nên cái gai trong mắt họ; Ngài trở thành đối tượng phải triệt hạ, để họ có thể được yên tâm ở lại trong bóng tối của thế gian.

Ngay cả những người lãnh đạo tôn giáo cũng có thái độ cứng lòng này. Họ cố chấp trong suy nghĩ của họ, vì họ chưa cảm nghiệm được ánh sáng của sự sống nơi Thiên Chúa. Vì sự cứng lòng như thế, tương quan của họ với Chúa Giê-su ngày càng trở nên căng thẳng. Họ mưu ý giết chết Ngài.

Thật lạ lùng thay, việc ra tay giết hại Chúa Giê-su trên thập giá lại giúp Ngài bộc lộ căn tính sâu xa nhất của Ngài. “Khi nào các ông đưa Con Người lên cao, các ông sẽ nhận biết Ta là ai. Ta không tự mình làm điều gì. Điều Ta nói, chính là điều Chúa Cha đã dạy Ta” (Ga 8, 28).

Sách Dân số thời Cựu Ước đề cập tới truyện con rắn đồng được treo lên để chữa lành những ai bị rắn cắn. Chuyện kể rằng những người dân của Chúa được Mô-sê dẫn qua sa mạc trong hành trình về Đất Hứa, họ đã than trách Chúa và Mô-sê, vì những khó khăn họ gặp phải trong sa mạc như thiếu bánh ăn và nước uống. Vì thế, họ bị rắn lửa bò ra cắn chết nhiều người. Họ ý thức rằng việc than trách như vậy là không đúng, nên đã tới xin Mô-sê cầu nguyện và tha thứ. Chúa truyền lệnh cho Mô-sê đúc một con rắn bằng đồng và treo lên cao, để bắt cứ ai bị rắng cắn mà nhìn lên rắn đồng, thì được sống.

“kẻ nào bị rắn cắn mà nhìn lên rắn đồng, thì được sống” (Ds 21,9)

Rắn đồng bị treo lên trở nên một phương thuốc chữa lành, nhưng với điều kiện là người bị rắn cắn phải nhìn lên con rắn bị treo lên ấy. Con rắn đồng bị trên lên xưa kia là hình ảnh của việc Chúa Giê-su bị treo lên thập giá.

Cái chết trên thập giá của Chúa Giê-su biểu lộ tình yêu cao vời của Thiên Chúa, yêu cho tới chết. Cái chết trên thập giá cho thấy tình yêu của Chúa Giê-su đối với nhân loại chúng ta. Cái chết ấy cũng biểu lộ căn tính thực sự của Ngài. Ngài là Con Thiên Chúa, đã chết để chúng ta được sống.

Để đón nhận sự sống này, chúng ta cũng phải nhìn lên thánh giá Chúa. Nhìn lên thánh giá là thái độ tin tưởng và tín thác, là thái độ khao khát được chữa lành, là đón nhận con đường thập giá như phương thuốc thiêng liêng chữa lành tội lỗi, đau khổ xác hồn cho chúng ta.

Vì sự cứng lòng và sự yêu chuộng thế gian, con người đã loại trừ ánh sáng sự sống của Thiên Chúa. Sự cứng lòng này muốn dập tắt ánh sáng của Chúa, nên đã giết Con Chúa làm người. Nhưng Thiên Chúa đã không nhượng bộ sự cứng lòng này. Vì yêu chúng ta nên Ngài trở nên nạn nhân cho sự cứng lòng của con người. Điều kỳ diệu là chính cái chết của Con Thiên Chúa lại trở nên nguồn sống cho con người chúng ta.

Khi suy niệm về cuộc thương khó của Chúa Giê-su trong mùa chay này, chúng ta hãy mở lòng để cho con đường Giê-su thấm vào tâm hồn chúng ta. Thấm vào để uốn nắn chúng ta bước vào con đường của Ngài. Con đường khổ giá và phục sinh của Ngài sẽ chữa lành chúng ta và dẫn chúng ta tới sự sống thật.

ngày 34. ÁNH SÁNG GIÊ-SU

Chúa Giê-su phán rằng: “Ta là sự sáng thế gian. Ai theo Ta sẽ không đi trong tối tăm, nhưng sẽ có ánh sáng ban sự sống”. (Ga 8,12)

Đối với thánh Gioan, Đức Giê-su là ánh sáng soi đường dẫn tới Thiên Chúa và là nguồn của sự sống. Trái ngược với ánh sáng là tối tăm, đại diện cho quyền lực của sự dữ. Đức Giê-su đến cho con người có thể thấy rõ : đâu là ánh sáng thật, là con đường đưa tới sự sống thật; đồng thời, bóng tối, con đường của sự dữ cũng bị tỏ lộ.

Trong câu chuyện bà Susanna được sách Đaniel kể lại (Đn 13), chúng ta thấy rằng đối với người Do thái, lời chứng của hai người về một sự kiện nào đó thì đáng tin. Hơn nữa, nếu người làm chứng lại là những bậc kỳ mục trong dân, lời chứng của họ càng đáng tin hơn. Tuy nhiên, lòng tin này lại bị lợi dụng. Những bậc kỳ mục đã lợi dụng vị thế của mình để làm chứng gian. Thay vì họ tuân theo sự thật, và làm chứng theo sự thật, họ lại ngụy tạo cách gian dối để triệt hạ người khác và tìm lợi cho mình. Họ không ở trong sự thật và sự sáng.

Đức Chúa đã dùng cậu bé Đaniel để bảo vệ sự trong sáng của bà Susanna trước lời cáo gian. Đaniel đã đi trong ánh sáng thật của Thiên Chúa.

Con người chúng ta luôn phải đối diện với sự thật và sự gian dối. Nhiều khi chúng ta e ngại sự thật, vì sự thật thì mất lòng. Chúng ta sợ sống thật, vì “sống thật thì ăn cháo, láo nháo thì ăn cơm”. Sống thật cũng bị coi là hiền, là đần, là thiếu năng động…Sự thật phanh phui tâm hồn chúng ta. Còn về sự gian dối thì lan tràn. Ngày nay, nơi đâu cũng gặp phải sự gian dối. Gian dối từ trong suy nghĩ, trong toan tính, tới những việc làm. Mục tiêu của gian dối là để trục lợi cho mình, hoặc che giấu mình.

Người sống trong gian dối có thể đạt được thành công trước mắt, nhưng lại tạo ra thất bại lâu dài: thất bại trong môi trường sống khi người ta quen sống gian dối, lừa lọc nhau; thất bại trong chất lượng sống khi người ta sản xuất ra những mặt hàng và thức ăn độc hại. Càng gian dối, con người lại càng mất mát. Xã hội ngày hôm nay là một ví dụ điển hình. Người gian dối đi trong bóng tối của thần dữ và sẽ đi tới cái chết.

Người đi trong ánh sáng thật của Đức Giê-su sẽ chịu nhiều thua thiệt nơi cuộc sống này, vì “con cái thế gian thì khôn hơn con cái sự sáng”. Tuy nhiên, chính lối sống chân thật ấy sẽ đưa tới sự bình an, và đưa tới xây dựng. Nếu ai cũng sống theo sự thật, thì môi trường sống sẽ được cải biến tốt hơn, và mọi người sẽ được mạnh khỏe hơn. Hơn nữa, ánh sáng Giê-su sẽ dẫn đưa họ tới tận nguồn sống đích thực nơi Thiên Chúa là sự sống đời đời.

Mùa chay trở nên mùa của lựa chọn: chọn đi vào ánh sáng, và chọn từ bỏ bóng tối. Chọn lựa này diễn ran gay trong chính tư tưởng của chúng ta. Chúng ta đừng đợi môi trường thay đổi, hoặc người khác thay đổi, rồi chúng ta mới đổi. Hãy bắt đầu từ chính mình. Khi mình thay đổi, người khác sẽ được biến đổi, và môi trường sống sẽ đổi. Xin cho chúng ta dám chịu thiệt thòi trước mắt, khi đón nhận lấy ánh sáng Giê-su, chúng ta sẽ đạt tới hạnh phúc vĩnh cửu trong Chúa.

Ngày 33. MỐI LỢI TUYỆT VỜI

“Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Ki-tô Giê-su, Chúa của tôi. Vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Ki-tô” (Pl 3,8).

Sống ở đời, con người bị chi phối rất lớn bởi danh và lợi. Vì muốn được tiếng tăm và lợi lộc, người ta có thể dùng nhiều thủ đoạn gian dối, gian ác…để đạt được mục tiêu của mình. Tuy nhiên, danh tiếng rồi cũng qua đi, tài lộc rồi cũng hết. Con người phải đối diện với sự thật phũ phàng là khi nhắm mắt thì tay buông xuôi, chẳng mang theo được danh lợi ấy.

Thánh Phao-lô, một người rất lỗi lạc đến mức không thua kém ai trong hàng kinh sư Do thái, nhưng khi gặp được Đức Giê-su phục sinh, cuộc đời thánh nhân đã bước sang trang sử mới. Ngài nhận thấy rằng: biết Đức Giê-su là mối lợi tuyệt vời nhất. Tất cả những thành công trong quá khứ chỉ còn như rác rưởi, và ngài chấp nhận mất tất cả để có được Đức Ki-tô Giê-su.

Vậy Đức Giê-su là con người như thế nào để thánh Phao-lô thay đổi hoàn toàn như thế?

Trở về với bài đọc Thánh kinh hôm nay trong Gioan 8,1-11, chúng ta có thể khám phá ra một số khía cạnh của Đức Giê-su. Câu chuyện kể rằng khi Đức Giê-su đang giảng dạy tại Đền thờ, thì các kinh sư và người Phariseu dẫn một người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình tới trước mặt Đức Giê-su. Họ nói với Đức Giê-su: “Trong sách Luật, ông Mô-sê truyền chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?” (Ga 8,5).

Đây là một trường hợp hóc búa. Bởi vì nếu chỉ xử theo luật, thì lời dạy của Đức Giê-su có gì mới đâu. Nếu xử khác đi, thì nguy cơ là lỗi luật Mô-sê, mà Ngài đang kiện toàn luật đó.

Đức Giê-su đã im lặng, và viết trên đất. Ngài im lặng, không phải Ngài không có câu trả lời. Ngài im lặng để cho lòng của những kẻ đang tố cáo, tưởng mình nắm chắc phần thắng khi đưa ra một vấn nạn khó như thế, phải chùng xuống. Trong lúc họ đắc thắng, họ sẽ không nghe được lời của Đức Giê-su. Ngài im lặng làm cho lòng họ chùng xuống, và họ  có thể nghe, và thực sự lắng nghe.

Câu trả lời của Đức Giê-su đã đi sâu vào lòng họ. Ngài không trả lời trực diện: ném hay không ném. Nhưng Ngài xoáy vào lòng những người đang tố cáo: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi” (Ga 8,7). Câu trả lời này hoàn toàn bất ngờ, và hơn nữa lại làm họ phải nhìn lại mình, phải xấu hổ vì chính sự thật phũ phàng của bản thân họ. Khi nghe lời trên, “họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi” (Ga 8,8). Ai cũng có tội, nên không thể kết án người khác được.

Đức Giê-su nhìn vào người phụ nữ còn ở lại đó và nói: “Tôi cũng không kết án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!” (Ga 8,11). Lời này thật cảm động và đầy lòng thương xót. Chỉ mình Ngài là đấng vô tội, và chỉ mình Ngài có quyền xét đoán và kết án, nhưng Ngài lại tỏ lòng thương xót và tha thứ, cũng như khuyên răn chị thay đổi đời sống. Chính tình thương mới làm cho con người ta thoát ra tình trạng tội. Thiên Chúa thương chúng ta và muốn chúng ta ra khỏi tình trạng tội lỗi.

Biết được Đức Giê-su đầy lòng thương xót như thế, chúng ta sẽ được giải thoát khỏi mọi gông cùm của luật, của giá trị trần gian, của những gì là danh và lợi. Chính Đức Giê-su giúp chúng ta sống thật với mình, và làm cho chúng ta được tự do. Chính vì vậy, thánh Phao-lô đã chấp nhận mất hết để có được Đức Giê-su, và để Ngài chi phối đời sống của thánh nhân.

Mỗi chúng ta được mời gọi gặp gỡ và cảm nhận lòng thương xót của Ngài. Đi sâu hơn nữa vào việc biết Ngài, để Ngài chi phối chọn lựa sống của chúng ta, chúng ta sẽ được giải thoát. Đó là mối lợi tuyệt vời nhất của cuộc đời chúng ta.

Ngày 32. NHƯ CON CHIÊN HIỀN LÀNH

“Phần con, con khác nào con chiên hiền lành bị đem đi làm thịt” (Gr 11,19).

Ngôn sứ Giê-rê-mi-a được Đức Chúa báo cho biết ngài sẽ bị ngược đãi, bị mưu hại tới mạng sống. Ngài ví mình như con chiên hiền lành bị đem đi làm thịt. Hình ảnh này tiên báo về chính Chúa Giê-su. Chúa Giê-su là Chiên Thiên Chúa, hiền lành và khiêm nhường. Ngài cũng bị người Do thái mưu bắt và giết chết.

Chúng ta đang trong những ngày cuối mùa chay, và tiến gần tới cuộc khổ nạn của Chúa Giê-su. Chúng ta cần chiêm ngắm thái độ của Ngài trước mưu tính của người Do thái.

Ngài có thể thoát được những mưu tính ấy, vì Ngài biết rõ lòng họ. Nhưng để trở nên Con Chiên tinh tuyền chết thay cho cả loài người, Ngài đã tự nguyện nộp mình, để cho mưu tính của những kẻ hại Ngài được diễn ra.

Thật đáng ngạc nhiên khi chứng kiến các phản ứng khác nhau của dân chúng và của những nhà chức trách về Chúa Giê-su. Những người dân ít học, hiền lành thì nhận ra Đức Giê-su chính là Đấng Ki-tô, là Đấng mà Thiên Chúa đã xức dầu, đã tuyển chọn. Họ nhận ra Ngài như thế, bởi vì họ đã nghe lời Ngài rao giảng. Ngay cả những người lính được sai đi bắt Ngài cũng thừa nhận: “xưa nay chưa hề đã có ai nói năng như người ấy” (Ga 7,46). Chính thái độ mở lòng và lắng nghe cho phép họ nhận ra Ngài là ai, và có thể đón nhận Ngài.

Trái lại, những người có học, những người lãnh đạo tôn giáo, lại đóng lòng, nhất quyết không nhìn nhận Ngài là Đấng Ki-tô, đơn giản vì Ngài đến từ miền Galilea, mà theo suy nghĩ của họ, Đấng Ki-tô không xuất thân cách rõ ràng như vậy được. Cái hiểu biết của họ giam hãm chính họ, không đưa họ tới nhận biết và đón nhận Ngài. Sự cứng lòng, sự tự phụ làm cho lòng họ trở nên chai đá, và cố tình mưu hại Chúa Giê-su.

Đứng trước thái độ này, Chúa Giê-su như Chiên hiền lành, Ngài để cho họ bắt và giết mình như người thợ bắt chiên đi làm thịt. Ngài không lên tiếng, không phản đối, nhưng nín lặng và tự trao nộp chính mình.

Chiêm ngắm việc Ngài tự nguyện nộp mình để chết thay cho con người, để xóa bỏ tội lỗi của con người, chúng ta hãy mở lòng để đón nhận tình yêu vô bờ bến này, để đón nhận ơn tha thứ và đón nhận tình yêu. Chiêm ngắm tình yêu Ngài dành cho chúng ta, để chúng ta có thể yêu Ngài hơn, và bắt chước Ngài trong cuộc sống này; chúng ta cũng có thể tự nguyện hy sinh, phục vụ người khác, vì yêu Chúa và vì yêu chính những người ấy.

Ngày 31. TÔI CÓ THỰC SỰ BIẾT GIÊSU?

Người tín hữu Kitô giáo tin vào Chúa Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa, là Đấng Cứu Độ. Giê-su là tên của Ngài, tên đó có ý nghĩa là “Thiên Chúa cứu”. Ngài cũng thường được gọi là Giêsu Nadaret, nghĩa là Ngài là người miền Nadaret. Kitô có ý nghĩa là “được xức dầu”, “người được Thiên Chúa sai tới”.

Tuy nhiên, tôi có thực sự biết về Ngài?

Người đương thời của Ngài chỉ biết về Ngài là con bác thợ mộc Giuse, là con bà Maria, và sống tại vùng Nadaret. Vì biết về ngài như thế, nên họ không chấp nhận Ngài là Đấng Thiên Chúa sai tới. Họ tin rằng Đức Kitô thì không rõ nguồn gốc. Chính việc biết bên ngoài về Chúa Giêsu lại là một trở ngại cho việc khám phá thực sự căn tính của Ngài. Họ không nhìn nhận Ngài là Đấng Kitô, vì họ không biết Thiên Chúa. Tin vào Thiên Chúa nhưng lại không thực sự biết về Ngài.

Ngày nay, nhiều người sinh ra trong gia đình truyền thống có đạo, được nghe nói về Chúa Giêsu, được học một ít giáo lý, học thuộc một số kinh kệ, rồi đi nhà thờ, đi lễ theo truyền thống, chứ chưa đi sâu vào hiểu biết Chúa Giêsu cách thực sự. Thánh Giê-rô-ni-mô nói “không biết Kinh thánh là không biết Chúa Kitô”. Như vậy, nếu coi một ít vốn giáo lý học từ nhỏ và thuộc một số kinh là đủ, thì cái biết đó lại ngăn cản người ta đi sâu hơn vào việc khám phá Chúa Giêsu Kitô.

Nhiều người ngoài tôn giáo, bị tuyên truyền gian dối, sai lạc về Ngài, nên có thái độ nghi kỵ, dửng dưng, hoặc hiềm khích về Ngài, cũng như về Giáo hội, nên họ lại càng khó đến cùng Ngài và hiểu biết Ngài cách đúng đắn.

Như vậy, cái biết sơ sài hoặc sai lạc về Ngài lại trở thành một rào cản để biết thực sự về Ngài. Thậm chí cái hiểu biết này lại gây ra một thách thức, hoặc một thái độ chống đối Ngài, nên dẫn tới thái độ thách thức và chống đối các tín hữu của Ngài, nghi kỵ cả Giáo hội của Ngài. Khi đọc sách Khôn Ngoan (Kn 2,1.12-22) tôi nhận thấy rằng người có dã tâm gian ác thì suy tính, gài bẫy người công chính, thử thách Thiên Chúa…, họ làm như vậy vì họ “không biết ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa”.

Khi suy niệm về con đường khổ giá mà Chúa Giêsu đang đi trong những ngày mùa chay này, có người hỏi tôi: “Tại sao Chúa Giêsu lại chọn con đường đau khổ và cái chết để cứu chúng ta? Có cách nào khác nhẹ nhàng hơn không?” Nếu không để tâm suy nghĩ, nếu không muốn biết sâu xa hơn về Chúa Giêsu thì chúng ta sẽ không trả lời chính xác câu hỏi trên được.

Vì thế, để có thể sống niềm tin cách đích thực, chúng ta cần đi sâu vào cảm nghiệm mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa, qua việc chiêm ngắm chính Chúa Giêsu trong Kinh Thánh, và qua lời rao giảng của Giáo hội. Ngài là Thiên Chúa khôn dò khôn thấu, chúng ta không thể biết Ngài nếu Ngài không tỏ ra cho chúng ta, nên việc tìm biết về Ngài cũng không có điểm dừng, không bao giờ là đủ, mà chúng ta luôn phải cầu xin, luôn phải chiêm ngắm và lắng nghe chính Ngài.

Chỉ khi khám phá Giêsu bằng sự chân thành của con tim và tình yêu, chúng ta mới khám phá được con đường của sự thật và sự sống, của tình yêu và hạnh phúc thật.