Ngày 30. CỨNG ĐẦU CỨNG CỔ

“Ta thấy dân này rồi, đó là một dân cứng đầu cứng cổ” (Xh 32,9).

Hạn từ “cứng đầu” thường để chỉ thái độ ngang bướng, ngoan cố, không dễ nghe lời. Người cứng đầu thường chỉ khư khư giữ ý kiến riêng của mình và không chịu để ý tới ý của người khác. Thái độ cứng đầu này lại càng tệ hơn khi người ấy là bề dưới mà không chịu nghe người bề trên của mình. Còn “cứng cổ” là một thứ bệnh co cứng cơ cổ, làm cho cổ không thể xoay được. Như vậy, “cứng đầu cứng cổ” dành để chỉ thái độ ngoan cố theo ý mình, không xoay chuyển để có thể nghe theo tư tưởng khác mình.

Với thái độ ngang bướng như thế, người cứng đầu không thể mở lòng mở trí để khám phá điều gì khác ngoài suy nghĩ của họ. Họ muốn cắt nghĩa lời người khác theo ý riêng mình, chứ không chịu hiểu người ta muốn truyền đạt gì. Thế nên, họ trở nên đóng khung, khép kín vào chính mình, vào lối mòn suy nghĩ của mình.

Dân Chúa xưa kia được Chúa giải thoát khỏi ách nô lệ ở Ai cập, nhưng thay vì cảm tạ Chúa và sống làm dân của Chúa, họ lại cắt nghĩa sự giải thoát theo ý riêng họ, để rồi đi vào lối mòn nơi các nền văn hóa xung quanh, qua việc thờ cúng một con bò; coi nó là chúa của mình để thờ lạy. (x. Xh 32, 7-10). Chúa muốn trừng phạt sự cứng lòng này, nhưng Mô-sê đã xin Chúa tha thứ, và Ngài đã dịu nét mặt và tha thứ cho dân.

Thái độ cứng đầu cứng cổ đó không chấm dứt, nó mang một hình thức khác nơi những người đương thời của Chúa Giê-su. Những người Do thái không chấp nhận vị thế của Chúa Giê-su như vị Thiên Sai (Thiên Chúa sai tới), cho dù Gioan Tẩy giả đã làm chứng về Ngài, và rồi chính những công việc Chúa Giê-su đã làm cũng minh chứng về Ngài. (Ga 5, 31-47).

Vì sự cứng lòng, nên người Do thái thời đó không đọc được lời loan báo trong các sách của Mô-sê về Chúa Giê-su; vì sự cứng lòng, họ không thể đến với Thiên Chúa là nguồn của sự sống đích thực, họ không thể tìm kiếm vinh quang Thiên Chúa cách thực sự, cho dù họ vẫn khoác lên mình vỏ bọc tôn giáo.

“Các ông nghiên cứu Kinh Thánh, vì nghĩ rằng trong đó các ông sẽ tìm được sự sống đời đời. Mà chính Kinh Thánh lại làm chứng về tôi. Các ông không muốn đến cùng tôi để được sự sống” (Ga 5,39-40)

Thái độ cứng đầu cứng cổ này vẫn tiếp tục tồn tại nơi con người ngày hôm nay, khi họ đóng lòng lại, ở yên trong suy nghĩ riêng. Họ sợ thay đổi và sợ đón nhận cái khác. Nguyên nhân chính của nỗi sợ này là sợ mất mặt, mất thể diện. Có nhiều khi họ biết điều mới mẻ này là tốt lành, nhưng họ e ngại người khác bàn luận về họ khi thay đổi, nên họ chấp nhận ở yên.

Là người có niềm tin, nếu người tín hữu không để cho lời Chúa biến đổi mình, và cứ tiếp tục “sống đạo” theo thói quen nơi hình thức bề ngoài, họ vẫn cứ tiếp tục xét đoán người khác theo tinh thần thế gian và theo ý riêng họ, lúc ấy, họ vẫn là người cứng đầu cứng cổ.

Trở về với Chúa trong mùa chay này, người tín hữu cần ra khỏi thái độ cứng đầu, ra khỏi lối mòn suy nghĩ luôn cho mình là đúng nhất, ra khỏi sự sợ hãi của đám đông khen chê mình. Khi chấp nhận ra khỏi mình, người tín hữu mới có thể dành khoảng không trong lòng cho lời Chúa, để lời Chúa ngấm vào tư tưởng, vang vọng trong tâm hồn và đưa chúng ta vào một lối sống cụ thể. Chỉ khi ấy, người tín hữu mới thực sự tin tưởng vào Chúa và cảm nghiệm được sự sống Chúa đang trao ban cho chúng ta.

Ngày 29. THUỘC VỀ

 

Mỗi người chúng ta đều có kinh nghiệm thuộc về đâu đó: thuộc về một gia đình, một dòng họ, một nhóm bạn, hoặc một tổ quốc, một tôn giáo… Nơi chúng ta thuộc về chất chứa đầy tình cảm thân thương, và có lúc thật thiêng liêng và đẹp đẽ. Câu ca dao “ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn”, hoặc “lá rụng về cội” diễn tả cảm thức thuộc về đó.

Cảm thức thuộc về được diễn tả bằng tình cảm gắn bó trọn cả tâm hồn và khói óc. Dù làm gì, người ta vẫn dành một giá trị ưu tiên cho nơi ta thuộc về. Chúng ta có thể thấy điều này trong ngày Tết, dù đi xa đến mấy, người ta vẫn muốn trở về gia đình, về quê hương. Nếu vì hoàn cảnh không về được, thì tâm trí người ta luôn hướng tới, và có thể điện thoại hỏi thăm nhau…

Trong tâm tình tôn giáo, người con của Chúa cũng cần có cảm thức thuộc về Giáo hội, thuộc về Chúa. Sự thuộc về này được diễn tả bằng tình yêu và lòng tin tưởng vào Chúa, cũng như hành xử theo những nguyên tắc và nếp sống dựa theo lời Chúa dạy.

Tuy nhiên, có những lúc niềm tin bị thử thách. Người ta không thấy ánh sáng cho đời sống đạo, và có khi rơi vào sự tối tăm, khô khan nguội lạnh, cảm giác bị Chúa bỏ rơi. Tuy nhiên, chúng ta cần đi tới một kinh nghiệm về một Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta:

“Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau? Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ” (Is 49,15)

Thiên Chúa không bao giờ quên chúng ta. Đó là một hồng ân lớn lao. Tình Chúa dành cho chúng ta còn hơn cả tình mẫu tử. Chính nhờ tình yêu này mà chúng ta được thuộc về gia đình của Chúa.

Sự thuộc về này còn được tìm thấy trong cuộc đối thoại của Chúa Giê-su và người Do thái. Chúa Giê-su bị trách là phạm thượng khi gọi Thiên Chúa là Cha mình, và như thế là tự coi mình ngang hàng với Thiên Chúa (Ga 5,18). Nhờ Chúa Giê-su, chúng ta cũng được phúc gọi Thiên Chúa là Cha, và chúng ta trở nên con cái của Ngài. Chúng ta thuộc về gia đình của Chúa.

Chúa Giê-su thuộc về Cha, nên Ngài làm những điều Chúa Cha làm, Ngài giảng dạy điều Ngài đã nghe nơi Cha, Ngài trao ban sự sống cho chúng ta như chính Chúa Cha là nguồn của sự sống. Chúng ta thuộc về gia đình của Chúa, nên chúng ta cũng được mời gọi lắng nghe lời Chúa, thực hành lời Chúa. Được như vậy, chúng ta sẽ có sự sống nơi mình, và bước vào cõi sống đích thực nơi Thiên Chúa.

Sống tâm tình mùa chay, chúng ta hãy để lòng mình hướng về Chúa. Suy nghĩ xem trong hoàn cảnh cụ thể của mình, mình sẽ sống như thế nào để thực sự mình thuộc về Chúa. Hãy lắng nghe lòng mình và can đảm lên đường thực hành tiếng mời gọi ấy. Đó là con đường dẫn chúng ta tới Thiên Chúa là nguồn của sự sống đời ta.

Ngày 28. NƯỚC CHỮA LÀNH

Ca dao của người Việt có câu “nhất nước nhì phân tam cần tứ giống”. Để một cây phát triển được, điều kiện hàng đầu phải có nước. Nước là yếu tố làm nên sự sống. Lại nữa, có nhiều nơi người ta không thể sống được vì thiếu nước. Hãy nghĩ xem đời sống bị đảo lộn như thế nào khi mà khu dân cư chúng ta ở bị mất nước. Xét như vậy, chúng ta thấy nước thật là quan trọng.

Trong đời sống tôn giáo, nước còn có một ý nghĩa quan trọng hơn nữa. Chẳng hạn người Ấn Độ có nghi thức thanh tẩy ở sông Hằng. Với người Do thái, nước tẩy sạch bệnh phong cùi của viên tướng Naaman, người Syria; trước sứ vụ công khai của Chúa Giê-su, Gioan Baotixita làm phép rửa bằng nước tại sông Giordan để tha bỏ tội lỗi.

Ngôn sứ Edekien kể cho chúng ta câu chuyện ngài được thiên thần dẫn đi qua một suối nước, và khi trở lại, ngài thấy hai bên bờ suối có cây côi mọc xanh tươi tốt, có nhiều cá và các sinh vật khác, nước ấy chảy đến đâu thì nơi đó được nên trong lành và sự sống được phát triển. Nước có sức mạnh như vậy, bởi vì nguồn nước của suối này phát xuất từ đền thờ. (x. Ed. 47,1-9).

Tin mừng thánh Gioan cũng kể cho chúng ta về sức mạnh của nước tại hồ Betsaida. Theo đó, khi hồ nước động, người đầu tiên chạm vào nước đầu tiên sẽ được khỏi bệnh, cho dù bất cứ bệnh tình nào (x. Ga 5,1-3.5-16). Vì thế mà có rất đông người đau yếu, mù lòa, què quặt, bất toại. Họ nằm la liệt ở đó.

Trong số họ, có một người đau liệt đã ba mươi tám năm, những mong chờ nước động để xuống chạm vào, nhưng anh ta đã thất vọng, vì luôn có người xuống trước anh ta. 38 năm không phải là thời gian ngắn. Bệnh tình lâu như thế cho thấy anh sẽ không bao giờ được khỏi, và anh phải ở đó suốt đời.

Bệnh của anh có thể tượng trưng cho sự bất lực của con người. Tự sức mình, mình không có thể giải thoát mình được. Mỗi người chúng ta đều có những bệnh tật thể lý hoặc thiêng liêng, những thói hư tật xấu xem ra khó chữa, khó tránh khỏi. Có người cố gắng thoát ra mà không thoát được; lại có người vì bất lực mà sống chung với nó, coi như cuộc đời mình không may.

Tự sức mình, mình không có thể giải thoát mình được

Điểm cao trào xảy ra! Chúa Giê-su đến gặp người đau bại này và hỏi “Anh muốn được lành bệnh không?” Thoạt nhìn, câu hỏi này có vẻ dư thừa, vì nếu không muốn, sao anh lại kiên nhẫn ở lại đây. Tuy nhiên, câu hỏi này thật cần thiết để xác nhận một lần nữa lòng muốn khỏi bệnh của anh. Có nhiều người có bệnh mà không muốn được khỏi!

Trước ao ước được chữa lành của anh, Chúa Giê-su đã truyền lệnh: “Anh hãy đứng dậy, vác chõng mà về”. Tức khắc, anh ấy được lành bệnh và đi về…

“Anh hãy đứng dậy, vác chõng mà về”.

Đến như nước mà còn có khả năng chữa lành bệnh, nhất là nước ấy chảy từ đền thờ, hoặc nước ấy được thiên thần khuấy động, thế thì việc chữa lành của Chúa Giê-su còn mạnh thế hơn dường nào. Ngài không chỉ chữa lành bệnh tật thể lý, mà còn cả bệnh tật thiêng liêng. Ngài làm cho chúng ta trở nên sống động và nên trong lành.

Khi Chúa Giê-su chịu treo trên thập giá, một người lính đã lấy giáo đâm vào cạnh sườn Ngài, nước và máu trào ra. Nước ấy có sức mạnh biến đổi toàn thể thế giới thọ tạo của chúng ta và cho chúng ta được thông phần sự sống của Ngài.

Tin tưởng vào quyền năng chữa lành ấy, chúng ta hãy chạy đến với Ngài, tha thiết xin Ngài chữa lành những vết đau của chúng ta, dù đó là vết đau trên thân xác, hay vết đau trong tâm hồn. Và để được chữa lành cách triệt để, chúng ta được mời gọi bước vào con đường thánh thiện, chống lại cám dỗ của tội lỗi. Xin Chúa chữa lành chúng ta.

 

Ngày 27. TIN VÀO QUYỀN NĂNG BIẾN ĐỔI CỦA THIÊN CHÚA

Vạn vật biến chuyển là quy luật của tạo hóa. Sự biến chuyển này có tính bền vững theo chu kỳ, như thời tiết bốn mùa mà chúng ta kinh nghiệm được, làm cho cuộc sống của vạn vật được duy trì và phát triển. Lại có những biến chuyển không theo quy luật, làm cho chúng ta nghĩ là những sự lạ thường, hoặc có thể gây tâm lý lo sợ. Như vậy, sự biến chuyển làm cho con người càng ý thức hơn về tính mong manh của phận người và tính phù vân của vạn vật.

Niềm tin vào Thiên Chúa tuyên xưng rằng trong sự biến chuyển “thiên biến vạn hóa” này có bàn tay Thiên Chúa, tức là quyền năng của Thiên Chúa vẫn tiếp tục điều khiển và hướng dẫn vũ trụ này, để nó được duy trì và tồn tại theo như ý muốn của Ngài.

Ngôn sứ Isaia loan báo Thiên Chúa sẽ tác tạo trời mới đất mới, sẽ làm cho con người được hạnh phúc vui tươi, lúc ấy sẽ không còn tiếng khóc than và đau khổ (x. Is 65,17-21). Lời loan báo này mở ra cho chúng ta hy vọng vào một tương lai của niềm vui, đến từ quyền năng biến đổi của Thiên Chúa. Đó là lúc mọi sự được biến đổi toàn diện.

Quyền năng biến đổi ấy có thể được cảm nghiệm một cách cụ thể khi một đau khổ của chúng ta được chữa lành. Đức Giê-su là hiện thân của Thiên Chúa cứu độ. Ngài đã đến chia sẻ phận người chúng ta và chữa lành bệnh tật thiêng liêng và thể lý của chúng ta.

Câu chuyện chữa lành được thánh Gioan (Ga 4,43-54) kể lại là một trong số bao nhiêu ví dụ. Ngài chữa lành đứa con sắp chết của một viên quan chức, dù Ngài không đến trực tiếp để đụng chạm vào đứa trẻ ấy. Ngài chỉ cần phán một lời, bệnh tình đã được chữa lành. Nghe như thể chuyện cổ tích, nhưng người có niềm tin thì nhìn nhận ra quyền năng của Thiên Chúa nơi Ngài. Viên quan kia khi về tới nhà, thấy đứa con mình mạnh khỏe, và hỏi gia nhân và được biết là cậu bé khỏi bệnh vào lúc mà lời của Chúa Giê-su phán ra.

Chúa nói: Ông hãy về đi, con ông mạnh rồi. (Ga 4,50)

Lời chữa lành này vẫn tiếp tục được phán ra trong bí tích giải tội. Khi hối nhân xin lòng thương xót tha thứ về tội lỗi của mình, vị linh mục lấy quyền của Chúa tha tội cho người ấy. Khi lời xá giải ấy được đọc lên, thì tội lỗi của hối nhân được tha thứ. Tuy nhiên, điều rất cần thiết là hối nhân phải có lòng khao khát chừa tội và khao khát được chữa lành.

Có một số người sau khi xưng tội, vẫn rơi vào tình trạng bất an, và cảm giác mình chưa được chữa lành. Tình trạng này đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau: có thể vì thiếu niềm tin tưởng vào ơn tha thứ; có thể vì thái độ cố chấp của chính mình, đến mức chính mình không tha thứ cho mình, trong khi Chúa đã tha; hoặc có thể xưng mà còn giấu diếm…

Chúng ta đã suy niệm tới lòng thương xót vô bờ bến của Thiên Chúa trong dụ ngôn người cha nhân hậu, Thiên Chúa tha thứ mọi tội lỗi cho chúng ta, dù tội lỗi lớn đến mức nào, khi chúng ta quay trở về với Chúa. Vì lòng thương xót ấy, chúng ta cần tin tưởng vào quyền năng chữa lành biến đổi của Chúa, biến đổi thân phận mong manh mỏng dòn của chúng ta, biến đổi sự bất toàn của vũ trụ này, để đưa tất cả vào sự vĩnh cửu của Thiên Chúa. Chữa lành thân xác và tâm hồn chỉ là những bước nhỏ để đưa vào hạnh phúc vĩnh cửu ấy.

Ngày 26. THIÊN CHÚA CHỜ ĐỢI VÀ NĂN NỈ TA TRỞ VỀ

 

Chúng ta đã bước vào Chúa nhật IV của mùa chay, là ngày mà các cha mặc áo mầu hồng, mầu của niềm vui. Niềm vui bởi vì chúng ta đã đi được hơn một nửa của mùa chay; vui bởi vì lòng thương xót của Thiên Chúa thật vô bờ bến đối với con người tội lỗi chúng ta. Ngài chờ đợi chúng ta trở về. Ngài năn nỉ chúng ta đi “vào nhà”, giao hòa với Chúa và với anh chị em chúng ta.

Thánh Luca, trong chương 15, trình bày cho chúng ta ba dụ ngôn về lòng thương xót của Thiên Chúa. Lòng thương xót này vượt lên trên sự công bằng, vượt lên logic được-mất theo tính toán của chúng ta.

Đứng trước thái độ bất hiếu của người con thứ hai, khi anh ta đòi cha chia gia tài, rồi thu gom tất cả, đi thật xa, để không còn muốn dây dưa với cha mình, người cha ôn tồn làm theo ý anh ta. Người cha tôn trọng tự do của anh. Anh ra đi, nhưng người cha luôn dõi theo, và chờ anh ta hối cải, quay trở về. Người cha đã hành xử hoàn toàn vì tình thương, chứ không bực tức vì lỗi phạm của người con này.

Hơn nữa, khi người con trở về trong tình trạng đói rách, bẩn thỉu nhuốc nhơ, người cha chẳng nề sự hôi hám của anh, ông đã ôm lấy anh, hôn anh, và phục hồi chức vị làm con cho anh ta, dù anh ta không còn đáng được như thế. Ông đã chuẩn bị sẵn mọi thứ cho anh, dù anh bỏ đi. Ông chỉ ngóng anh về, để ông có thể yêu anh ta như trước.

Thiên Chúa vẫn chờ đợi, vẫn đối xử như thế với chúng ta, đặc biệt những người đã xa Chúa, đã lỗi nghĩa cùng Chúa, đã phản bội Chúa. Ngài vẫn chờ đợi chúng ta hồi tâm trở về, ít là tìm được sự bình an, và chỉ cần ta trở về, thì ngài sẽ yêu thương chúng ta hơn điều chúng ta mong đợi.

Trái với người con thứ bỏ nhà ra đi, anh con cả luôn ở nhà bên cha, nhưng người con này không cảm nhận được tình thương của Cha dành cho mình. Anh luôn nhìn cha với ánh mắt sợ sệt. Anh phục vụ cha như một người tôi tớ, một người làm công. Anh đánh giá mình, sống giá trị của mình qua việc chu toàn nghĩa vụ, chứ không phải làm vì tình cha con. Anh cũng đánh giá người khác bằng việc sống nghĩa vụ này.

Vì thế, khi người em đã bỏ cha ra đi, phung phí tài sản, và đã không chu toàn nghĩa vụ người con, thì người anh cả không chấp nhận em mình. Hơn nữa, anh cũng không chấp nhận cha mình đối xử bằng tình thương với người em này. Anh muốn dừng lại ở sự công bằng theo nghĩa vụ.

Anh ở cùng cha, nhưng hoàn toàn không sống tình cha con. Vì vậy, anh không cảm nghiệm được tình thương, cũng chẳng muốn đối xử với người khác bằng tình thương. Xem ra tình thương yêu đối với anh là điều xa xỉ. Anh ở cùng cha, mà không biết rõ về cha của mình.

Có lẽ nhiều người có đạo cũng dừng lại ở vị thế này. Đi đạo và thực hành đạo thuần túy theo luật, vì sợ Chúa phạt…, và rồi cũng đối xử với người khác theo luật; khi người khác không giữ luật như mình thì mình dễ xét nét, và lên án, không chấp nhận và không cho người khác có cơ hội tháp nhập vào cộng đoàn như mình.

Trước thái độ cứng nhắc của người anh cả, người cha đã phải ra năn nỉ anh ta vào nhà. Vào nhà để chung vui với cha, vì sự chờ đợi của cha đã được thỏa mãn, khi người em đã về. Vào để chung vui với người em, vì em được tái tạo lại trong tình thương, đã trở về từ cõi chết. Chung vui với cha cũng là chấp nhận sự trở về của người em. Chỉ khi vào nhà chung vui như thế, người anh mới cảm nghiệm được tình cha con thực sự.

Thiên Chúa luôn năn nỉ chúng ta qua Giáo hội, kêu mời chúng ta hoán cải, dù ta còn ở xa, hay ở ngay trong nhà. Chúng ta được mời gọi ra khỏi cái tôi ích kỷ, xét nét, cố chấp, để trở về với tình thương, của hòa giải và của sự đón nhận nhau. Tôi trở về hay không? Tôi vào nhà chung vui hay không? Điều đó tùy thuộc vào tôi. Thiên Chúa vẫn chờ đợi và năn nỉ ta trở về.

Ngày 25. THÁI ĐỘ TỰ HÀO

Tự hào là một cảm giác của một ai đó hài lòng về chính mình, về những kết quả mà mình đạt được. Nó thường quy về cái TÔI: cái tôi có thể là chính mình, là gia đình, là làng xóm, là… quốc gia tôi. Chúng ta thấy tình cảm này khi đã thành công trong một công việc nào đó, hoặc con cái mình đạt được thành tích cao, hoặc đội bóng nước nhà vừa thắng sau một mùa giải…

Nhiều vị lãnh đạo có thể tận dụng hay lợi dụng cái tình cảm tự hào này để lèo lái, để dẫn dắt một nhóm người. Thường thì ai cũng thích được đề cao mình, nên thói tự hào là một cửa ngõ gần nhất để đưa tới mất mình, hiểu theo nghĩa mình trở nên nô lệ cho chính cái tôi của mình, khi mình muốn đề cao cái tôi ấy.

Thái độ tự hào không chỉ dừng lại ở khía cạnh trần thế, mà nó còn len lỏi vào cả đời sống tôn giáo. Đó là khi một người tín hữu thực hành đạo tìm tiếng khen, muốn được đề cao. Thái độ này bị chính Chúa Giê-su lên án và chỉ chích, vì nó không đưa đến đâu.

Thánh Luca ghi lại câu chuyện Chúa Giê-su nói với những người hay tự hào mình là người công chính và hay khinh bỉ kẻ khác: “Có hai người lên đền thờ cầu nguyện, một người biệt phái và một người thu thuế. Người biệt phái đứng thẳng, cầu nguyện rằng: “lạy Chúa, tôi cảm tạ Chúa vì tôi không như bao người khác: tham lam, bất công, ngoại tình, hay là như tên thu thuế kia; tôi ăn chay mỗi tuần hai lần, và dâng một phần mười tất cả các hoa lợi của tôi”. Người thu thuế đứng xa xa, không dám ngước mắt lên trời, đấm ngực mà nguyện rằng: “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”. Và Chúa kết luận rằng người thu thuế này ra về thì được nên công chính, còn người biệt phái ở trên thì không. (Lc 18,9-13)

ai tự nâng mình lên sẽ bị hạ xuống; và ai tự hạ mình xuống sẽ được nâng lên. (Lc 18,14)

Để làm những việc như người biệt phái trong câu chuyện vừa kể thật là khó. Ông ấy đã phải cố gắng nhiều để giữ luật, đã phải hy sinh nhiều để đóng 1/10 thu nhập của mình…, có lẽ trong chúng ta chưa ai có thể sống và giữ luật một cách chỉn chu như ông ta được. Đó là lý do để ông ấy tự hào, và thật đáng tự hào, nhất là tự hào về đời sống đạo.

Tuy nhiên, thái độ tự hào không chỉ là một niềm vui về điều mình đã làm được, mà nó còn hàm chứa yếu tố so sánh. Tôi tự hào vì tôi hay hơn, giỏi hơn, tốt hơn người khác. Vì mình hơn, nên dễ kiêu ngạo, và dễ chê bai khinh thường người khác.

Thái độ tự hào chỉ muốn khoe công trạng của mình, đến mức suy nghĩ rằng mọi thành công đều do khả năng của mình. Đối với người sống niềm tin vào Chúa, thái độ tự hào này cắt đứt họ với Chúa, họ không còn nhìn nhận ân sủng của Chúa nơi cuộc đời họ. Một cách nào đó, họ đã đánh cắp ơn Chúa và biến làm khả năng riêng của mình, nên khi tự hào, họ chỉ còn thấy mình, chứ không còn thấy Chúa nữa.

Thái độ tự hào như thế không đưa người ta trở về với Chúa được, vì người ta chỉ dừng lại ở chính mình. Vì thế mà người ấy không trở nên công chính được.

Trái với sự tự hào là lòng khiêm hạ. Người khiêm hạ dám nhìn nhận điểm yếu của mình, dám sống sự thật về mình. Trong tương quan với Chúa, người khiêm hạ hướng hoàn toàn về Chúa, nhìn nhận mọi khả năng đều là ân huệ của Chúa. Người ấy xin lòng thương xót và sự nâng đỡ từ Chúa. Người khiêm hạ tìm kiếm đời sống của mình ở trong Chúa. Chính thái độ khiêm hạ này giúp người ta nên công chính.

Tôi nhìn lại đời tôi với những tình cảm và tương quan với Chúa. Đâu là những lúc tôi tự hào? Và lúc ấy, Chúa có còn trong tâm trí tôi nữa không? Có khi nào vì sự tự hào mà tôi đã chê bai người khác? Tôi phải điều chỉnh thái độ của tôi như thế nào để nối kết lại tương quan với Chúa và với người khác?

Ngày 23: RA KHỎI SỰ CỐ CHẤP

Trong cuộc sống, chúng ta thường gặp thái độ cố chấp. Người cố chấp luôn giữ nguyên ý kiến theo những quan niệm cứng nhắc sẵn có, mặc dù mình sai, dần dần hình thành những định kiến về ai đó theo ý riêng của mình.

Người cố chấp thường đóng kín trong quan điểm riêng, nên không thể mở lòng để nghe được điều mới, không thể khám phá cái hay, cái tốt nơi người khác. Người cố chấp luôn cắt nghĩa lời nói, việc làm của người khác theo nghĩa tiêu cực. Vì thế, người cố chấp thường không dám nhìn nhận mình sai, và hay lấp liếm cái sai của mình.

Tin Mừng Luca 11,14-23 kể cho chúng ta câu chuyện Chúa Giê-su trừ một quỷ câm. Một số người chứng kiến việc chữa lành này, thay vì thán phục và cảm tạ Chúa, họ lại cắt nghĩa sự việc theo tư tưởng xấu: “ông ta nhờ tướng quỷ mà trừ quỷ”. Đó là thái độ cố chấp. Họ không muốn nhìn nhận việc tốt đẹp nơi Chúa Giê-su. Họ không thấy được quyền năng của Thiên Chúa đã được thể hiện.

Lời Chúa phán: “Hãy nghe tiếng Ta thì Ta sẽ là Thiên Chúa các ngươi, và các ngươi sẽ là dân của Ta. Hãy bước theo mọi đường lối Ta truyền dạy, để các người được hạnh phúc” (Gr 7,23). Tuy nhiên, không phải ai cũng dễ nghe lời Chúa phán. Ngôn sứ Giê-rê-mia nói tiếp: “Nhưng chúng chẳng nghe, chẳng để tai, cứ theo những suy tính của mình, theo tâm địa ngoan cố xấu xa” (Gr 7,25). Họ có thể được gọi là người cố chấp.

Rất có thể tôi cũng rơi vào thái độ cố chấp này. Tôi hãy dừng lại, nhìn lại cách hành xử của mình để suy xét.

Trong tương quan với gia đình: có khi nào tôi muốn bảo vệ ý riêng, tới mức luôn phê bình, luôn bỏ ngoài tai ý kiến của người khác, cho dù là cha mẹ, vợ hoặc chồng, hay con cái. Sự cố chấp này làm cho gia đình mất vui, vì thiếu sự lắng nghe; các thành viên khác sẽ cảm thấy không được tôn trọng; bầu khí gia đình sẽ trở nên nặng nề.

Trong tương quan với đồng nghiệp: thái độ cố chấp có thể gây mất tình bạn. Người ta làm việc với mình đơn thuần chỉ vì công việc, phải bằng mặt chứ không bằng lòng. Khi xong việc, thì chẳng còn gì gắn với nhau nữa. Thái độ cố chấp làm đổ vỡ tương quan đồng nghiệp.

Trong tương quan với cộng đoàn giáo xứ: thái độ cố chấp được thể hiện qua cách thức ứng xử, lời nói chê bai người khác, luôn đề cao ý kiên riêng của mình, và muốn người khác phải làm theo ý riêng ấy. Cộng đoàn là nơi thể hiện mình, chứ không còn là nơi để yêu thương và phục vụ, không còn tinh thần hy sinh và chia sẻ nữa.

Trong tương quan với Chúa: thái độ cố chấp không đưa tới hoán cải và thay đổi, vì người cố chấp không muốn nghe tiếng Chúa, họ chỉ nghe tiếng mình. Thiên Chúa mà họ tin trở nên mờ nhạt; họ không thể có tâm tình gắn bó với Chúa, khiêm tốn trước Chúa, và như vậy, họ không sống đúng là người con của Chúa.

Như vậy, thái độ cố chấp gây ra đổ vỡ trong mọi tương quan. Để thay đổi, tôi cần nhìn lại mình. Cần suy về câu nói “tiên trách kỷ, hậu trách nhân” – nghĩa là trước hết phải trách mình, nhìn nhận lỗi mình, sau đó mới nhìn tới người khác. Chỉ khi loại bỏ được thái độ cố chấp này, chúng ta mới có thể tái tạo lại tương quan và xây dựng thành tương quan của tình bạn, tình yêu và tình thương. Mùa chay là lúc thuận lợi để thay đổi chính mình trong các tương quan này.

Ngày 22. GIỮ LUẬT ĐỂ ĐƯỢC SỐNG

Để trở nên cao cả trong Nước Trời, Chúa Giê-su mời gọi chúng ta phải tuân giữ Luật Chúa và dạy người khác cũng làm như vậy. Bởi vì chính Ngài đến để kiện toàn Lề luật, chứ không phải để bãi bỏ Lề luật. (Mt 5,17).

Đối diện với Luật, chúng ta luôn có cảm giác bị gò bó, theo khuôn khổ và khó chịu. Chúng ta thích được tự do, thích làm gì thì làm, và thích làm theo ý thích của riêng mình, thế nên Luật luôn là điều chúng ta muốn tránh, muốn lách. Nhiều sinh viên học ngành Luật chia sẻ rằng họ học luật để lách luật.

Tuy nhiên, chúng ta hãy nhìn khía cạnh tích cực của luật. Giả sử khi ra đường, nếu người ta không tuân thủ theo luật giao thông, sẽ có nhiều tai nạn xảy ra, và người ta sẽ không di chuyển được. Như vậy, luật giao thông nhằm giúp người ta đi lại tốt hơn và giúp người ta được an toàn khi đi đường.

Đối với dân tộc Do thái, luật pháp không phải chỉ nhắm tới việc vận hành một quốc gia, nhưng còn hướng tới làm cho dân trở thành dân của Chúa, bởi vì luật pháp chính những giới răn của chính Thiên Chúa.

Ngôn sứ Mô-sê nói với dân Do thái: “tôi đã dạy cho anh em những thánh chỉ và quyết định như Đức Chúa, Thiên Chúa của tôi, đã truyền cho tôi, để anh em đem ra thực hành trong miền đất mà anh em sắp vào chiếm hữu. Anh em phải giữ và đem ra thực hành, vì nhờ đó anh em sẽ được các dân coi là khôn ngoan và thông minh” (Đnl 4,5-6); “anh em sẽ được sống…” (Đnl 4,1).

Như vậy, việc tuân giữ luật Chúa không những làm cho mình có thể sống, mà còn làm cho mình trở nên khôn ngoan và thông minh.

Khi Chúa Giê-su tới, Ngài không bãi bỏ luật của Mô-sê, nhưng Ngài kiện toàn Luật đó. Kiện toàn hiểu theo nghĩa làm cho kết quả của việc giữ luật đi tới trọn hảo hơn, đặc biệt là trong giới răn yêu thương.

Luật xưa dạy “mắt đền mắt, răng đền răng”, nghĩa là chỉ bắt người gây hại đền bù cho mình đúng theo điều họ đã gây ra, chứ không được đòi hơn. Luật của Chúa mời gọi người ta “tha thứ tới bảy mươi lần bảy”, nghĩa là tha thứ hết; thậm chí tới chỗ yêu thương cả kẻ thù, cầu nguyện cho kẻ vu khống mình. Như vậy, giới răn của Chúa Giê-su đưa chúng ta tới sự khôn ngoan và sự sống của Nước Trời, chứ không chỉ là sự sống ở trần gian này.

Sự khôn ngoan của Nước Trời có gì khác với sự khôn ngoan của người đời?

Người ở đời đánh giá người ta theo nấc thang giá trị của vật chất, quyền lực và thỏa mãn đam mê dục vọng. Càng có quyền, có tiền thì càng được trọng vọng. Họ được gọi là khôn, là tài giỏi. Từ đó, họ bị nguy cơ tự cao tự đại, và có nguy cơ đi tới lối sống hưởng thụ, thậm chí tới vô độ và vô luân. Đó là một lối sống được coi là thành công, là đáng sống của người đời. Đó là giá trị trần thế. Tuy nhiên, lối sống này chỉ làm họ vui bề ngoài, hãnh diện với người đời, còn tâm hồn họ chưa chắc đã thỏa mãn, gia đình chưa chắc đã có hạnh phúc sâu xa…

Người sống theo luật Chúa phải từ bỏ lối sống vô luân, đồng thời phải sống những giá trị của yêu thương người qua việc giúp đỡ người khó, phục vụ người yếu đau theo tinh thần của việc thương xác bảy mối và thương hồn bảy mối. Người giữ luật Chúa qua việc sống trung thành trong đời sống hôn nhân gia đình, chăm chỉ đọc kinh cầu nguyện, thờ phượng Thiên Chúa. Khi sống những giá trị đó, người tín hữu bị coi là u mê, yếu kém, thậm chí bị chê bai vì hiền, vì dại, không biết mùi đời. Nhưng chính những giá trị này lại làm cho họ có niềm vui hạnh phúc thật sự, hạnh phúc từ bên trong, và giúp họ được sống trong Chúa.

Luật Mô-sê giúp cho dân Do thái được sống làm dân Chúa và trở nên khôn ngoan. Luật Chúa Giê-su đưa chúng ta tới sự sống và khôn ngoan trong Nước Trời. Trở về với Chúa trong mùa chay này, chúng ta hãy hướng tới giới răn của Chúa, và đem ra thực hành trong đời sống của chúng ta. Chắc chắn chúng ta sẽ cảm nhận được sự khôn ngoan của Chúa nơi tâm hồn chúng ta.

Ngày 21. THA THỨ ĐỂ ĐƯỢC THỨ THA

 

“Nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình, Chúa Cha ở trên trời cũng không tha thứ cho anh em” (Mt 18,35)

Lỗi lầm trong cuộc sống là điều khó tránh. Nó có vẻ là hệ quả của thân phận dòn mỏng của con người. Có những lỗi lầm lớn, một khi đã xảy ra, gây ra bao nhiêu điều tai hại, nhiều tương quan bị đổ vỡ. Lại có những lỗi lầm nhẹ, người ta xem thường nó, nhưng nếu nhiều lỗi lầm nhẹ như vậy cứ tích tụ, nguy cơ của nó lại càng nguy hiểm, vì nó tạo thành định kiến cách tiệm tiến, khó thay đổi.

Lỗi lầm là điều khó tránh. Nhưng vấn đề là chúng ta sẽ rút ra được bài học nào từ những lỗi lầm ấy. Người không biết rút ra bài học, thì sẽ hành xử theo vết xe cũ, và lại cứ tiếp tục phạm lỗi.

Đứng trước lầm lỗi của người khác, có người ứng xử cách bao dung, cảm thông và tha thứ; nhưng cũng có người cố chấp, có bé xé ra to, làm nghiêm trọng vấn đề hơn. Có những người cương quyết không chịu tha, thậm chí luôn giữ trong lòng, tới mức “sống để bụng, chết đem theo”. Khi cố chấp như vậy, thì chính mình là nạn nhân, vì mình luôn phải mang một “cục ức” ở trong lòng, trong tâm trí, mình trở thành tù nhân của chính sự cố chấp ấy.

Thông thường, khi một người ý thức về lỗi lầm của mình thì cũng dễ dàng cảm thông với lỗi lầm của người khác. Nhưng cũng có người không chịu nhìn nhận lỗi của mình, và chỉ muốn soi mói tội người, đổ tội cho người khác. Lại có người muốn người ta tha lỗi cho mình, còn mình thì không chịu tha cho người khác.

Chúa Giê-su trong Tin mừng theo Mattheu kể cho chúng ta câu chuyện một “tên mắc nợ không biết xót thương” như sau: Một kẻ mắc nợ vua mười ngàn yến vàng, và không có gì để trả, Y kêu van nhà vua thương gia hạn nợ cho anh, nhà vua thương, và tha hết số nợ ấy cho y. Nhưng vừa ra tới ngoài, Y gặp bạn nợ y một tram quan tiền, Y đòi nợ và người bạn kia cũng xin y gia hạn, nhưng y không chịu, và bắt tống ngục người bạn này. Chuyện này làm các bạn khác rất buồn, nên họ đã kể cho nhà vua biết. Nhà vua bèn truyền lệnh đòi y tới, và mắng y: “Tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết số nợ ấy cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta, thì đến lượt ngươi, người không phải thương xót đồng bạn, như chính ta đã thương xót ngươi sao?” (Mt 18,32-33).

Chúa Giê-su kể câu chuyện này, và chuyển tải thông điệp: “Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử như vậy với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình” (c.34)

“Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử như vậy với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình” (c.34)

Lời kinh dạy chúng ta biết, nếu Chúa chấp tội, nào ai có thể được cứu? Điều này cho thấy ai cũng ta cũng có tội, nhưng điều kiện để được ơn tha thứ của Chúa là chúng ta phải tha thứ cho người khác.

Tha tội cho người khác đòi chúng ta phải cho đi, phải mất mát, phải ra khỏi cái suy nghĩ ích kỷ, nhỏ nhen, và phải mặc lấy lòng bao dung, nhân hậu. Hơn nữa, chúng ta cần ý thức mình cũng có nhiều lỗi lầm cần được tha thứ, nên chúng ta phải đối xử như thế với người khác, để chính mình cũng được thứ tha.

Sống tâm tình mùa chay, chúng ta muốn đi vào tâm tư của Chúa Giê-su, Đấng đến tha thứ tội chúng ta, và muốn chúng ta cũng tha thứ lỗi lầm mà người khác xúc phạm tới chúng ta. Hãy dừng lại, để cho những sự bực tức còn lại trong lòng chùng xuống, nghĩ tới người gây lỗi, và bày tỏ lòng bao dung từ trong tâm hồn, xin với Chúa tấm lòng quảng đại để tha thứ, và tôi quyết định tha thứ cho ai đó đã gây ra lỗi tội vớ tôi.

LỄ TRUYỀN TIN

“Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 2, 38)

Đây là lễ tưởng nhớ biến cố Đức Maria được sứ thần của Chúa đến gặp gỡ và truyền tin: “Bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận” (Lc 1,31-33).

Maria được Thiên Chúa tuyển chọn, cho cộng tác trực tiếp vào công cuộc cứu độ con người, bởi vì Mẹ “đẹp lòng Thiên Chúa” (c. 30). Đây cũng là một ân huệ lớn lao Chúa dành cho một người nữ bé nhỏ. Đây cũng là điều Chúa thực hiện lời loan báo qua ngôn sứ Isaia: “Này đây một trinh nữ sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và tên con trẻ sẽ gọi là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Is 7,14).

“Này đây một trinh nữ sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và tên con trẻ sẽ gọi là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Is 7,14).

Ân sủng của Thiên Chúa trao ban, nhưng cần sự đón nhận cách tự do của con người. Mẹ Maria đã can đảm thưa tiếng Xin Vâng, và nhờ tiếng xin vâng này, chương trình cứu độ của Thiên Chúa đã trở thành hiện thực.

Tiếng xin vâng không đơn giản là một lời đáp qua loa cho xong. Mẹ Maria đã thưa tiếng xin vâng với trọn cả con người và tâm hồn của Mẹ. Mẹ đã hoàn toàn trao hiến cuộc đời, trao hiến tương lai cho Chúa, tùy Chúa sử dụng và dẫn đưa.

Tiếng xin vâng ấy làm đảo lộn cuộc đời của Mẹ. Mẹ thưa tiếng xin vâng để cưu mang Lời Thiên Chúa trong lòng, để cho Thiên Chúa có thể nhập thể làm người. Điều này quả là nguy hiểm. Bằng chứng là vị hôn phu của Mẹ là Thánh Giuse đã định tâm bỏ, không đón Mẹ về nhà nữa. Nếu như thế, Mẹ đã có thể bị ném đá cho đến chết, vì bị coi như phạm tội ngoại tình. Danh tiếng gia đình cũng vì thế mà bị bẽ mặt. Tiếng xin vâng rất nhẹ nhưng lại rất nặng nề. Không dễ gì có thể thưa tiếng xin vâng với Ý Chúa. Vì nó làm đảo lộn tương lai, làm cho mất an toàn và nguy hiểm.

Xét như thế, chúng ta thấy tiêng xin vâng của Mẹ phải xuất phát từ niềm tin vào quyền năng Thiên Chúa và từ lòng yêu mến. Mẹ là người đầy lòng tin tưởng và tín thác, nên Mẹ phó dâng cuộc đời của Mẹ cho Chúa.

Chính nhờ tiếng xin vâng của Mẹ, mà công trình cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện. Kế hoạch cứu độ thật lớn lao, nhưng lại cần sự cộng tác cách tự do của con người bé nhỏ. Để làm cho kế hoạch cứu độ này được lớn lên và đạt tới mọi người, Thiên Chúa cũng cần sự cộng tác nhỏ bé của chúng ta, khi chúng ta dám thưa tiếng xin vâng với Ý Chúa.

Nhờ tiếng xin vâng, và chấp nhận bước vào cuộc đời một cách đầy phưu lưu, Mẹ Maria đã trải qua nhiều gian khổ, phải sinh con trong hoàn cảnh thiếu thốn cực cùng, phải chạy chốn qua Ai cập vì sự bắt bớ của vua Hê-rô-đê, phải chứng kiến cuộc khổ hình của Giê-su, con của Mẹ, như lời ông Simon nói khi Mẹ dâng con vào Đền thờ: “một lưỡi gươm đâm thâu tâm hồn bà” (Lc 2, 35)

“một lưỡi gươm đâm thâu tâm hồn bà” (Lc 2, 35)

Nhưng cũng nhờ tiếng xin vâng ấy, mà Mẹ trở thành Mẹ Thiên Chúa, Mẹ của nhân loại. Mẹ được ca tụng là Nữ vương trên trời…, Mẹ Maria được sùng kính khắp nơi, vì uy quyền bầu cử của Mẹ bên tòa Chúa Giê-su. Mẹ là mẫu gương tuyệt vời của lòng tin, là hoa thơm của nhân loại dâng lên Chúa. Mẹ cũng là tương lại của nhân loại, khi Mẹ được ơn vô nhiễm nguyên tội, Mẹ được về trời cả xác lẫn hồn. Chúng ta cũng được thông phần vào ân sủng đó.

Theo gương Mẹ, chúng ta ca tụng quyền năng yêu thương của Chúa đối với nhân loại. Chúng ta cũng xin Chúa cho chúng ta thêm niềm tin và lòng yêu mến, để có thể gác bỏ một bên những bận tâm rất chính đáng của chúng ta, để có thể cộng tác vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa, nhờ thế, chúng ta trở nên đẹp lòng Chúa như Mẹ và cũng được hạnh phúc bên Chúa như Mẹ.