Ngày 37. GIỮ LỜI CHÚA

Đức Giê-su nói: “Ai tuân giữ lời tôi, thì sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 8,51)

Thân phận con người được đều theo một quy luật “sinh – lão – bệnh – tử”. Có sinh ắt có tử, nên cái chết xem ra là một điều hiển nhiên. Ai cũng phải trải qua cái chết. Tuy nhiên, trong cái nhìn của tôn giáo, cuộc đời không đơn thuần được cân đo đong đếm bằng những điều kiểm chứng được bằng giác quan. Với cái nhìn của niềm tin, cuộc sống con người hiện tại như một sự chuẩn bị cho cuộc đời mới, đời sống sau khi đã chết.

Người tin vào Thiên Chúa không tin con người có nhiều kiếp sống ở trần gian này. Đời sau hay “kiếp sau” trong niềm tin Ki-tô giáo là chung cục, là đích đến có tính vĩnh cửu. Được vào nơi hạnh phúc Nước Trời, hay trầm luân hỏa ngục chịu khổ đều là vĩnh viễn. Cho nên cuộc sống này như chuẩn bị cho cuộc sống vĩnh viễn ấy. Đó là “nơi về” đích thực. Câu nói “sống gởi thác về” là như vậy.

Tuy nhiên, niềm tin vào sự sống vĩnh cửu ấy không dễ được hiểu và đón nhận, vì nó nằm ngoài sức tưởng tượng của chúng ta. Đó là một “thế giới” của niềm tin. Niềm tin này được đặt nền trên sự phục sinh của chính Đức Giê-su. Ngài đã phục sinh và mở đường vào sự sống đời đời cho toàn thể nhân loại.

Với người Do thái, họ tin vào Thiên Chúa. Phần thưởng của việc giữ giao ước với Chúa là được Chúa chúc lành cho đời sống hiện tại, được cư ngụ trong vùng đất Chúa hứa ban. Nhưng họ chưa hẳn đã đi tới niềm tin vào sự phục sinh.

Đức Chúa phán cùng Abraham: “Phần ngươi, hãy giữ giao ước của Ta, ngươi và dòng dõi ngươi sau này, từ thế hệ này qua thế hệ khác” (St 17,9).

Đức Giê-su lại nói tới việc “không bao giờ phải chết” như là phần thưởng cho những kẻ tin vào lời của Ngài. Đây là một điều quá sức tưởng tượng đối với người Do thái, bởi vì từ trước tới nay, chưa có ai sống mãi mãi, ngay cả với tổ phụ Abraham là tổ phụ của họ trong niềm tin. Chính vì thế, họ đã chống đối và muốn ném đã Đức Giê-su.

Trong diễn từ của Đức Giê-su, Ngài cho thấy Ngài là Đấng Hằng Hữu (Ga 8,58). Đây là đặc tính riêng thuộc về Thiên Chúa. Chính Ngài là Lời Thiên Chúa đến với loài người để hướng dẫn, dạy dỗ chúng ta. Lời của Ngài có sức biến đổi chúng ta, không phải giúp chúng ta sống tốt hơn, nhưng đưa chúng ta tới chỗ chiến thắng cái chết. Thân phận con người là phải chết, nhưng nhờ quyền năng phục sinh của Đức Giê-su, con người sẽ bước vào sự sống vĩnh cửu.

Phần thưởng cho những người sống theo Lời Chúa là vĩnh cửu, và đương nhiên, hệ quả cho những người tội lỗi cũng là vĩnh cửu. Cho nên, cuộc sống hiện nay là cơ hội chọn lựa của chúng ta, là thời gian chúng ta chuẩn bị cho “nơi về” có tính vĩnh cửu của chúng ta. Hãy mở lòng để đón nhận sự sống vĩnh cửu của Chúa Giê-su cho cuộc đời mai sau của chúng ta, qua việc lắng nghe và tuân giữ lời của Chúa Giê-su.

 

Ngày 36. SỰ THẬT SẼ GIẢI THOÁT

“Nếu các ông ở lại trong lời của tôi, thì các ông thật là môn đệ tôi; các ông sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng các ông” (Ga 8,32)

Đây là điều mà Đức Giê-su đã nói với các người Do thái trong cuộc tranh luận về căn tính của Ngài. Ngài là Đấng đem ánh sáng và sự thật đến cho trần gian. Sự thật đó sẽ giải thoát con người. Tuy nhiên, khi đề cập tới sự giải thoát, thì người Do thái nghĩ ngay tới ách nô lệ: “chúng tôi là dòng dõi Abraham, chúng tôi không làm nô lệ cho ai bao giờ” (Ga 8,33). Đức Giê-su đẩy cuộc tranh luận lên cao trào, và chỉ ra tình trạng nô lệ vào tội: “hễ ai phạm tội thì làm nô lệ cho tội” (Ga 8,34).

“Nô lệ cho tội” diễn tả sự phụ thuộc của con người vào tội. Mọi sự lệ thuộc đều làm cho con người mất tự do. Xét như vậy, con người bị lệ thuộc vào nhiều thứ quá: lệ thuộc vào thế gian, lệ thuộc vào đam mê xác thịt, lệ thuộc vào danh vọng trần thế… Sự lệ thuộc giam hãm con người. Ví dụ: dục vọng giam hãm con người trong thú vui thân xác; tiền tài giam hãm con người trong thói tham lam, ích kỷ; danh vọng giam hãm con người trong thói hám danh, hám quyền. Khi bị chi phối như vậy, con người trở nên nô lệ cho chính dục vọng, danh vọng và tư lợi của mình.

Gặp gỡ được Giê-su sẽ đưa đến giải thoát, vì Đức Giê-su đưa chúng ta thấy rõ chính mình, thấy rõ đâu sự thật về mình, đâu là điểm phải đến. Đức Giê-su đưa chúng ta nhận ra sự ảo vọng nơi giá trị trần gian. Chỉ khi chúng ta thấy rõ, chúng ta mới có thể đưa tới một chọn lựa đúng, một thái độ đúng, và chúng ta sẽ được giải thoát.

Câu chuyện được tiên tri Đaniel thuật lại về ba cậu bé Sidrach, Misach và Abdenago bị vua Nabucodonosor bắt phải thờ lạy tà thần, cho chúng ta kinh nghiệm về một Thiên Chúa giải thoát (Đn 3). Ba cậu bé muốn trung thành với niềm tin vào Chúa, nên đã không nghe lời nhà vua. Nhà vua đã ném các cậu vào lò lửa, để xem có ai cứu không. Lò lửa được đốt lên, và các cậu bị ném vào. Tuy nhiên, niềm tin của các cậu đã không bị thất vọng. Thiên Chúa đã sai thiên thần đến bảo vệ các cậu, và cho các cậu được an toàn. Nhà vua hết sức sửng sốt và đã chúc tụng Đức Chúa. Câu chuyện này cho chúng ta thấy rằng Thiên Chúa là Đấng giải thoát kẻ cậy trông vào Ngài. Ngài cũng giải thoát cả nhà vua, đại diện cho những người vốn tin tưởng vào quyền lực trần gian, thoát khỏi ảo vọng quyền lực của mình, và đưa tới sự thật về quyền năng tuyệt đối và đích thực nơi Thiên Chúa.

Đức Giê-su đến trần gian, giải thoát con người chúng ta, không phải bằng việc thi thố quyền năng tuyệt đối trên. Nhưng Ngài giải thoát chúng ta từ chính thân phận con người. Qua lời giáo huấn của Ngài, qua lối sống của Ngài, chúng ta có thể thấy được đâu là giá trị đích thực.

Nhờ việc Ngài chia sẻ phận người với chúng ta, và nhờ cuộc khổ nạn của Ngài, chúng ta tìm thấy nơi Ngài con đường, tìm thấy ánh sáng cho đời sống của chúng ta. Để được giải thoát, chúng ta cần mở lòng đón nhận sự thật của Ngài. Khi đón nhận như thế, chúng ta cũng phải bước đi vào con đường Ngài đã đi, con đường đón nhận thập giá vì yêu thương. Con đường ấy đòi buộc chúng ta chết đi cho giá trị trần gian, hay đúng hơn là, chúng ta được thoát khỏi giá trị trần gian, để tiến bước vào giá trị của Nước Trời.

Mỗi người chúng ta hãy dừng lại, nhìn lại đời sống mình, những bận tâm lo lắng đang chi phối tâm trí mình, xem mình đang bị vướng, bị lệ thuộc vào điều gì? Sự bận tâm đó đang giam hãm tôi như thế nào? Nó có thực sự giúp ích cho đời sống của tôi? Hãy mở ra đón nhận sự thật của Giê-su, tôi sẽ được giải thoát.

Ngày 35. NHÌN LÊN GIÊ-SU

“Khi nào các ông đưa Con Người lên cao, các ông sẽ nhận biết ta là ai”. (Ga 8, 28).

Lời rao giảng của Chúa Giê-su đụng chạm vào sâu thẳm cõi lòng của con người. Lời ấy như ánh sáng chiệu rọi vào những vùng tối tăm của tâm hồn con người, và làm cho con người bị phanh phui trước sự thật về mình, trước những ảo tưởng và tinh thần thế gian đang chế ngự tâm hồn mình.

Những ai mở lòng đón nhận ánh sáng của lời Chúa, họ sẽ được ánh sáng ấy dẫn đi trong đường sự sống. Trái lại, nhiều người sống trong bóng tối, sống theo tinh thần thế gian và tìm kiếm giá trị trần gian, sẽ gặp phải thách đố và không chấp nhận Chúa Giê-su. Ngài trở nên cái gai trong mắt họ; Ngài trở thành đối tượng phải triệt hạ, để họ có thể được yên tâm ở lại trong bóng tối của thế gian.

Ngay cả những người lãnh đạo tôn giáo cũng có thái độ cứng lòng này. Họ cố chấp trong suy nghĩ của họ, vì họ chưa cảm nghiệm được ánh sáng của sự sống nơi Thiên Chúa. Vì sự cứng lòng như thế, tương quan của họ với Chúa Giê-su ngày càng trở nên căng thẳng. Họ mưu ý giết chết Ngài.

Thật lạ lùng thay, việc ra tay giết hại Chúa Giê-su trên thập giá lại giúp Ngài bộc lộ căn tính sâu xa nhất của Ngài. “Khi nào các ông đưa Con Người lên cao, các ông sẽ nhận biết Ta là ai. Ta không tự mình làm điều gì. Điều Ta nói, chính là điều Chúa Cha đã dạy Ta” (Ga 8, 28).

Sách Dân số thời Cựu Ước đề cập tới truyện con rắn đồng được treo lên để chữa lành những ai bị rắn cắn. Chuyện kể rằng những người dân của Chúa được Mô-sê dẫn qua sa mạc trong hành trình về Đất Hứa, họ đã than trách Chúa và Mô-sê, vì những khó khăn họ gặp phải trong sa mạc như thiếu bánh ăn và nước uống. Vì thế, họ bị rắn lửa bò ra cắn chết nhiều người. Họ ý thức rằng việc than trách như vậy là không đúng, nên đã tới xin Mô-sê cầu nguyện và tha thứ. Chúa truyền lệnh cho Mô-sê đúc một con rắn bằng đồng và treo lên cao, để bắt cứ ai bị rắng cắn mà nhìn lên rắn đồng, thì được sống.

“kẻ nào bị rắn cắn mà nhìn lên rắn đồng, thì được sống” (Ds 21,9)

Rắn đồng bị treo lên trở nên một phương thuốc chữa lành, nhưng với điều kiện là người bị rắn cắn phải nhìn lên con rắn bị treo lên ấy. Con rắn đồng bị trên lên xưa kia là hình ảnh của việc Chúa Giê-su bị treo lên thập giá.

Cái chết trên thập giá của Chúa Giê-su biểu lộ tình yêu cao vời của Thiên Chúa, yêu cho tới chết. Cái chết trên thập giá cho thấy tình yêu của Chúa Giê-su đối với nhân loại chúng ta. Cái chết ấy cũng biểu lộ căn tính thực sự của Ngài. Ngài là Con Thiên Chúa, đã chết để chúng ta được sống.

Để đón nhận sự sống này, chúng ta cũng phải nhìn lên thánh giá Chúa. Nhìn lên thánh giá là thái độ tin tưởng và tín thác, là thái độ khao khát được chữa lành, là đón nhận con đường thập giá như phương thuốc thiêng liêng chữa lành tội lỗi, đau khổ xác hồn cho chúng ta.

Vì sự cứng lòng và sự yêu chuộng thế gian, con người đã loại trừ ánh sáng sự sống của Thiên Chúa. Sự cứng lòng này muốn dập tắt ánh sáng của Chúa, nên đã giết Con Chúa làm người. Nhưng Thiên Chúa đã không nhượng bộ sự cứng lòng này. Vì yêu chúng ta nên Ngài trở nên nạn nhân cho sự cứng lòng của con người. Điều kỳ diệu là chính cái chết của Con Thiên Chúa lại trở nên nguồn sống cho con người chúng ta.

Khi suy niệm về cuộc thương khó của Chúa Giê-su trong mùa chay này, chúng ta hãy mở lòng để cho con đường Giê-su thấm vào tâm hồn chúng ta. Thấm vào để uốn nắn chúng ta bước vào con đường của Ngài. Con đường khổ giá và phục sinh của Ngài sẽ chữa lành chúng ta và dẫn chúng ta tới sự sống thật.

ngày 34. ÁNH SÁNG GIÊ-SU

Chúa Giê-su phán rằng: “Ta là sự sáng thế gian. Ai theo Ta sẽ không đi trong tối tăm, nhưng sẽ có ánh sáng ban sự sống”. (Ga 8,12)

Đối với thánh Gioan, Đức Giê-su là ánh sáng soi đường dẫn tới Thiên Chúa và là nguồn của sự sống. Trái ngược với ánh sáng là tối tăm, đại diện cho quyền lực của sự dữ. Đức Giê-su đến cho con người có thể thấy rõ : đâu là ánh sáng thật, là con đường đưa tới sự sống thật; đồng thời, bóng tối, con đường của sự dữ cũng bị tỏ lộ.

Trong câu chuyện bà Susanna được sách Đaniel kể lại (Đn 13), chúng ta thấy rằng đối với người Do thái, lời chứng của hai người về một sự kiện nào đó thì đáng tin. Hơn nữa, nếu người làm chứng lại là những bậc kỳ mục trong dân, lời chứng của họ càng đáng tin hơn. Tuy nhiên, lòng tin này lại bị lợi dụng. Những bậc kỳ mục đã lợi dụng vị thế của mình để làm chứng gian. Thay vì họ tuân theo sự thật, và làm chứng theo sự thật, họ lại ngụy tạo cách gian dối để triệt hạ người khác và tìm lợi cho mình. Họ không ở trong sự thật và sự sáng.

Đức Chúa đã dùng cậu bé Đaniel để bảo vệ sự trong sáng của bà Susanna trước lời cáo gian. Đaniel đã đi trong ánh sáng thật của Thiên Chúa.

Con người chúng ta luôn phải đối diện với sự thật và sự gian dối. Nhiều khi chúng ta e ngại sự thật, vì sự thật thì mất lòng. Chúng ta sợ sống thật, vì “sống thật thì ăn cháo, láo nháo thì ăn cơm”. Sống thật cũng bị coi là hiền, là đần, là thiếu năng động…Sự thật phanh phui tâm hồn chúng ta. Còn về sự gian dối thì lan tràn. Ngày nay, nơi đâu cũng gặp phải sự gian dối. Gian dối từ trong suy nghĩ, trong toan tính, tới những việc làm. Mục tiêu của gian dối là để trục lợi cho mình, hoặc che giấu mình.

Người sống trong gian dối có thể đạt được thành công trước mắt, nhưng lại tạo ra thất bại lâu dài: thất bại trong môi trường sống khi người ta quen sống gian dối, lừa lọc nhau; thất bại trong chất lượng sống khi người ta sản xuất ra những mặt hàng và thức ăn độc hại. Càng gian dối, con người lại càng mất mát. Xã hội ngày hôm nay là một ví dụ điển hình. Người gian dối đi trong bóng tối của thần dữ và sẽ đi tới cái chết.

Người đi trong ánh sáng thật của Đức Giê-su sẽ chịu nhiều thua thiệt nơi cuộc sống này, vì “con cái thế gian thì khôn hơn con cái sự sáng”. Tuy nhiên, chính lối sống chân thật ấy sẽ đưa tới sự bình an, và đưa tới xây dựng. Nếu ai cũng sống theo sự thật, thì môi trường sống sẽ được cải biến tốt hơn, và mọi người sẽ được mạnh khỏe hơn. Hơn nữa, ánh sáng Giê-su sẽ dẫn đưa họ tới tận nguồn sống đích thực nơi Thiên Chúa là sự sống đời đời.

Mùa chay trở nên mùa của lựa chọn: chọn đi vào ánh sáng, và chọn từ bỏ bóng tối. Chọn lựa này diễn ran gay trong chính tư tưởng của chúng ta. Chúng ta đừng đợi môi trường thay đổi, hoặc người khác thay đổi, rồi chúng ta mới đổi. Hãy bắt đầu từ chính mình. Khi mình thay đổi, người khác sẽ được biến đổi, và môi trường sống sẽ đổi. Xin cho chúng ta dám chịu thiệt thòi trước mắt, khi đón nhận lấy ánh sáng Giê-su, chúng ta sẽ đạt tới hạnh phúc vĩnh cửu trong Chúa.

Ngày 33. MỐI LỢI TUYỆT VỜI

“Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Ki-tô Giê-su, Chúa của tôi. Vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Ki-tô” (Pl 3,8).

Sống ở đời, con người bị chi phối rất lớn bởi danh và lợi. Vì muốn được tiếng tăm và lợi lộc, người ta có thể dùng nhiều thủ đoạn gian dối, gian ác…để đạt được mục tiêu của mình. Tuy nhiên, danh tiếng rồi cũng qua đi, tài lộc rồi cũng hết. Con người phải đối diện với sự thật phũ phàng là khi nhắm mắt thì tay buông xuôi, chẳng mang theo được danh lợi ấy.

Thánh Phao-lô, một người rất lỗi lạc đến mức không thua kém ai trong hàng kinh sư Do thái, nhưng khi gặp được Đức Giê-su phục sinh, cuộc đời thánh nhân đã bước sang trang sử mới. Ngài nhận thấy rằng: biết Đức Giê-su là mối lợi tuyệt vời nhất. Tất cả những thành công trong quá khứ chỉ còn như rác rưởi, và ngài chấp nhận mất tất cả để có được Đức Ki-tô Giê-su.

Vậy Đức Giê-su là con người như thế nào để thánh Phao-lô thay đổi hoàn toàn như thế?

Trở về với bài đọc Thánh kinh hôm nay trong Gioan 8,1-11, chúng ta có thể khám phá ra một số khía cạnh của Đức Giê-su. Câu chuyện kể rằng khi Đức Giê-su đang giảng dạy tại Đền thờ, thì các kinh sư và người Phariseu dẫn một người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình tới trước mặt Đức Giê-su. Họ nói với Đức Giê-su: “Trong sách Luật, ông Mô-sê truyền chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?” (Ga 8,5).

Đây là một trường hợp hóc búa. Bởi vì nếu chỉ xử theo luật, thì lời dạy của Đức Giê-su có gì mới đâu. Nếu xử khác đi, thì nguy cơ là lỗi luật Mô-sê, mà Ngài đang kiện toàn luật đó.

Đức Giê-su đã im lặng, và viết trên đất. Ngài im lặng, không phải Ngài không có câu trả lời. Ngài im lặng để cho lòng của những kẻ đang tố cáo, tưởng mình nắm chắc phần thắng khi đưa ra một vấn nạn khó như thế, phải chùng xuống. Trong lúc họ đắc thắng, họ sẽ không nghe được lời của Đức Giê-su. Ngài im lặng làm cho lòng họ chùng xuống, và họ  có thể nghe, và thực sự lắng nghe.

Câu trả lời của Đức Giê-su đã đi sâu vào lòng họ. Ngài không trả lời trực diện: ném hay không ném. Nhưng Ngài xoáy vào lòng những người đang tố cáo: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi” (Ga 8,7). Câu trả lời này hoàn toàn bất ngờ, và hơn nữa lại làm họ phải nhìn lại mình, phải xấu hổ vì chính sự thật phũ phàng của bản thân họ. Khi nghe lời trên, “họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi” (Ga 8,8). Ai cũng có tội, nên không thể kết án người khác được.

Đức Giê-su nhìn vào người phụ nữ còn ở lại đó và nói: “Tôi cũng không kết án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!” (Ga 8,11). Lời này thật cảm động và đầy lòng thương xót. Chỉ mình Ngài là đấng vô tội, và chỉ mình Ngài có quyền xét đoán và kết án, nhưng Ngài lại tỏ lòng thương xót và tha thứ, cũng như khuyên răn chị thay đổi đời sống. Chính tình thương mới làm cho con người ta thoát ra tình trạng tội. Thiên Chúa thương chúng ta và muốn chúng ta ra khỏi tình trạng tội lỗi.

Biết được Đức Giê-su đầy lòng thương xót như thế, chúng ta sẽ được giải thoát khỏi mọi gông cùm của luật, của giá trị trần gian, của những gì là danh và lợi. Chính Đức Giê-su giúp chúng ta sống thật với mình, và làm cho chúng ta được tự do. Chính vì vậy, thánh Phao-lô đã chấp nhận mất hết để có được Đức Giê-su, và để Ngài chi phối đời sống của thánh nhân.

Mỗi chúng ta được mời gọi gặp gỡ và cảm nhận lòng thương xót của Ngài. Đi sâu hơn nữa vào việc biết Ngài, để Ngài chi phối chọn lựa sống của chúng ta, chúng ta sẽ được giải thoát. Đó là mối lợi tuyệt vời nhất của cuộc đời chúng ta.

Ngày 32. NHƯ CON CHIÊN HIỀN LÀNH

“Phần con, con khác nào con chiên hiền lành bị đem đi làm thịt” (Gr 11,19).

Ngôn sứ Giê-rê-mi-a được Đức Chúa báo cho biết ngài sẽ bị ngược đãi, bị mưu hại tới mạng sống. Ngài ví mình như con chiên hiền lành bị đem đi làm thịt. Hình ảnh này tiên báo về chính Chúa Giê-su. Chúa Giê-su là Chiên Thiên Chúa, hiền lành và khiêm nhường. Ngài cũng bị người Do thái mưu bắt và giết chết.

Chúng ta đang trong những ngày cuối mùa chay, và tiến gần tới cuộc khổ nạn của Chúa Giê-su. Chúng ta cần chiêm ngắm thái độ của Ngài trước mưu tính của người Do thái.

Ngài có thể thoát được những mưu tính ấy, vì Ngài biết rõ lòng họ. Nhưng để trở nên Con Chiên tinh tuyền chết thay cho cả loài người, Ngài đã tự nguyện nộp mình, để cho mưu tính của những kẻ hại Ngài được diễn ra.

Thật đáng ngạc nhiên khi chứng kiến các phản ứng khác nhau của dân chúng và của những nhà chức trách về Chúa Giê-su. Những người dân ít học, hiền lành thì nhận ra Đức Giê-su chính là Đấng Ki-tô, là Đấng mà Thiên Chúa đã xức dầu, đã tuyển chọn. Họ nhận ra Ngài như thế, bởi vì họ đã nghe lời Ngài rao giảng. Ngay cả những người lính được sai đi bắt Ngài cũng thừa nhận: “xưa nay chưa hề đã có ai nói năng như người ấy” (Ga 7,46). Chính thái độ mở lòng và lắng nghe cho phép họ nhận ra Ngài là ai, và có thể đón nhận Ngài.

Trái lại, những người có học, những người lãnh đạo tôn giáo, lại đóng lòng, nhất quyết không nhìn nhận Ngài là Đấng Ki-tô, đơn giản vì Ngài đến từ miền Galilea, mà theo suy nghĩ của họ, Đấng Ki-tô không xuất thân cách rõ ràng như vậy được. Cái hiểu biết của họ giam hãm chính họ, không đưa họ tới nhận biết và đón nhận Ngài. Sự cứng lòng, sự tự phụ làm cho lòng họ trở nên chai đá, và cố tình mưu hại Chúa Giê-su.

Đứng trước thái độ này, Chúa Giê-su như Chiên hiền lành, Ngài để cho họ bắt và giết mình như người thợ bắt chiên đi làm thịt. Ngài không lên tiếng, không phản đối, nhưng nín lặng và tự trao nộp chính mình.

Chiêm ngắm việc Ngài tự nguyện nộp mình để chết thay cho con người, để xóa bỏ tội lỗi của con người, chúng ta hãy mở lòng để đón nhận tình yêu vô bờ bến này, để đón nhận ơn tha thứ và đón nhận tình yêu. Chiêm ngắm tình yêu Ngài dành cho chúng ta, để chúng ta có thể yêu Ngài hơn, và bắt chước Ngài trong cuộc sống này; chúng ta cũng có thể tự nguyện hy sinh, phục vụ người khác, vì yêu Chúa và vì yêu chính những người ấy.

Ngày 31. TÔI CÓ THỰC SỰ BIẾT GIÊSU?

Người tín hữu Kitô giáo tin vào Chúa Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa, là Đấng Cứu Độ. Giê-su là tên của Ngài, tên đó có ý nghĩa là “Thiên Chúa cứu”. Ngài cũng thường được gọi là Giêsu Nadaret, nghĩa là Ngài là người miền Nadaret. Kitô có ý nghĩa là “được xức dầu”, “người được Thiên Chúa sai tới”.

Tuy nhiên, tôi có thực sự biết về Ngài?

Người đương thời của Ngài chỉ biết về Ngài là con bác thợ mộc Giuse, là con bà Maria, và sống tại vùng Nadaret. Vì biết về ngài như thế, nên họ không chấp nhận Ngài là Đấng Thiên Chúa sai tới. Họ tin rằng Đức Kitô thì không rõ nguồn gốc. Chính việc biết bên ngoài về Chúa Giêsu lại là một trở ngại cho việc khám phá thực sự căn tính của Ngài. Họ không nhìn nhận Ngài là Đấng Kitô, vì họ không biết Thiên Chúa. Tin vào Thiên Chúa nhưng lại không thực sự biết về Ngài.

Ngày nay, nhiều người sinh ra trong gia đình truyền thống có đạo, được nghe nói về Chúa Giêsu, được học một ít giáo lý, học thuộc một số kinh kệ, rồi đi nhà thờ, đi lễ theo truyền thống, chứ chưa đi sâu vào hiểu biết Chúa Giêsu cách thực sự. Thánh Giê-rô-ni-mô nói “không biết Kinh thánh là không biết Chúa Kitô”. Như vậy, nếu coi một ít vốn giáo lý học từ nhỏ và thuộc một số kinh là đủ, thì cái biết đó lại ngăn cản người ta đi sâu hơn vào việc khám phá Chúa Giêsu Kitô.

Nhiều người ngoài tôn giáo, bị tuyên truyền gian dối, sai lạc về Ngài, nên có thái độ nghi kỵ, dửng dưng, hoặc hiềm khích về Ngài, cũng như về Giáo hội, nên họ lại càng khó đến cùng Ngài và hiểu biết Ngài cách đúng đắn.

Như vậy, cái biết sơ sài hoặc sai lạc về Ngài lại trở thành một rào cản để biết thực sự về Ngài. Thậm chí cái hiểu biết này lại gây ra một thách thức, hoặc một thái độ chống đối Ngài, nên dẫn tới thái độ thách thức và chống đối các tín hữu của Ngài, nghi kỵ cả Giáo hội của Ngài. Khi đọc sách Khôn Ngoan (Kn 2,1.12-22) tôi nhận thấy rằng người có dã tâm gian ác thì suy tính, gài bẫy người công chính, thử thách Thiên Chúa…, họ làm như vậy vì họ “không biết ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa”.

Khi suy niệm về con đường khổ giá mà Chúa Giêsu đang đi trong những ngày mùa chay này, có người hỏi tôi: “Tại sao Chúa Giêsu lại chọn con đường đau khổ và cái chết để cứu chúng ta? Có cách nào khác nhẹ nhàng hơn không?” Nếu không để tâm suy nghĩ, nếu không muốn biết sâu xa hơn về Chúa Giêsu thì chúng ta sẽ không trả lời chính xác câu hỏi trên được.

Vì thế, để có thể sống niềm tin cách đích thực, chúng ta cần đi sâu vào cảm nghiệm mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa, qua việc chiêm ngắm chính Chúa Giêsu trong Kinh Thánh, và qua lời rao giảng của Giáo hội. Ngài là Thiên Chúa khôn dò khôn thấu, chúng ta không thể biết Ngài nếu Ngài không tỏ ra cho chúng ta, nên việc tìm biết về Ngài cũng không có điểm dừng, không bao giờ là đủ, mà chúng ta luôn phải cầu xin, luôn phải chiêm ngắm và lắng nghe chính Ngài.

Chỉ khi khám phá Giêsu bằng sự chân thành của con tim và tình yêu, chúng ta mới khám phá được con đường của sự thật và sự sống, của tình yêu và hạnh phúc thật.

 

Ngày 30. CỨNG ĐẦU CỨNG CỔ

“Ta thấy dân này rồi, đó là một dân cứng đầu cứng cổ” (Xh 32,9).

Hạn từ “cứng đầu” thường để chỉ thái độ ngang bướng, ngoan cố, không dễ nghe lời. Người cứng đầu thường chỉ khư khư giữ ý kiến riêng của mình và không chịu để ý tới ý của người khác. Thái độ cứng đầu này lại càng tệ hơn khi người ấy là bề dưới mà không chịu nghe người bề trên của mình. Còn “cứng cổ” là một thứ bệnh co cứng cơ cổ, làm cho cổ không thể xoay được. Như vậy, “cứng đầu cứng cổ” dành để chỉ thái độ ngoan cố theo ý mình, không xoay chuyển để có thể nghe theo tư tưởng khác mình.

Với thái độ ngang bướng như thế, người cứng đầu không thể mở lòng mở trí để khám phá điều gì khác ngoài suy nghĩ của họ. Họ muốn cắt nghĩa lời người khác theo ý riêng mình, chứ không chịu hiểu người ta muốn truyền đạt gì. Thế nên, họ trở nên đóng khung, khép kín vào chính mình, vào lối mòn suy nghĩ của mình.

Dân Chúa xưa kia được Chúa giải thoát khỏi ách nô lệ ở Ai cập, nhưng thay vì cảm tạ Chúa và sống làm dân của Chúa, họ lại cắt nghĩa sự giải thoát theo ý riêng họ, để rồi đi vào lối mòn nơi các nền văn hóa xung quanh, qua việc thờ cúng một con bò; coi nó là chúa của mình để thờ lạy. (x. Xh 32, 7-10). Chúa muốn trừng phạt sự cứng lòng này, nhưng Mô-sê đã xin Chúa tha thứ, và Ngài đã dịu nét mặt và tha thứ cho dân.

Thái độ cứng đầu cứng cổ đó không chấm dứt, nó mang một hình thức khác nơi những người đương thời của Chúa Giê-su. Những người Do thái không chấp nhận vị thế của Chúa Giê-su như vị Thiên Sai (Thiên Chúa sai tới), cho dù Gioan Tẩy giả đã làm chứng về Ngài, và rồi chính những công việc Chúa Giê-su đã làm cũng minh chứng về Ngài. (Ga 5, 31-47).

Vì sự cứng lòng, nên người Do thái thời đó không đọc được lời loan báo trong các sách của Mô-sê về Chúa Giê-su; vì sự cứng lòng, họ không thể đến với Thiên Chúa là nguồn của sự sống đích thực, họ không thể tìm kiếm vinh quang Thiên Chúa cách thực sự, cho dù họ vẫn khoác lên mình vỏ bọc tôn giáo.

“Các ông nghiên cứu Kinh Thánh, vì nghĩ rằng trong đó các ông sẽ tìm được sự sống đời đời. Mà chính Kinh Thánh lại làm chứng về tôi. Các ông không muốn đến cùng tôi để được sự sống” (Ga 5,39-40)

Thái độ cứng đầu cứng cổ này vẫn tiếp tục tồn tại nơi con người ngày hôm nay, khi họ đóng lòng lại, ở yên trong suy nghĩ riêng. Họ sợ thay đổi và sợ đón nhận cái khác. Nguyên nhân chính của nỗi sợ này là sợ mất mặt, mất thể diện. Có nhiều khi họ biết điều mới mẻ này là tốt lành, nhưng họ e ngại người khác bàn luận về họ khi thay đổi, nên họ chấp nhận ở yên.

Là người có niềm tin, nếu người tín hữu không để cho lời Chúa biến đổi mình, và cứ tiếp tục “sống đạo” theo thói quen nơi hình thức bề ngoài, họ vẫn cứ tiếp tục xét đoán người khác theo tinh thần thế gian và theo ý riêng họ, lúc ấy, họ vẫn là người cứng đầu cứng cổ.

Trở về với Chúa trong mùa chay này, người tín hữu cần ra khỏi thái độ cứng đầu, ra khỏi lối mòn suy nghĩ luôn cho mình là đúng nhất, ra khỏi sự sợ hãi của đám đông khen chê mình. Khi chấp nhận ra khỏi mình, người tín hữu mới có thể dành khoảng không trong lòng cho lời Chúa, để lời Chúa ngấm vào tư tưởng, vang vọng trong tâm hồn và đưa chúng ta vào một lối sống cụ thể. Chỉ khi ấy, người tín hữu mới thực sự tin tưởng vào Chúa và cảm nghiệm được sự sống Chúa đang trao ban cho chúng ta.

Ngày 29. THUỘC VỀ

 

Mỗi người chúng ta đều có kinh nghiệm thuộc về đâu đó: thuộc về một gia đình, một dòng họ, một nhóm bạn, hoặc một tổ quốc, một tôn giáo… Nơi chúng ta thuộc về chất chứa đầy tình cảm thân thương, và có lúc thật thiêng liêng và đẹp đẽ. Câu ca dao “ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn”, hoặc “lá rụng về cội” diễn tả cảm thức thuộc về đó.

Cảm thức thuộc về được diễn tả bằng tình cảm gắn bó trọn cả tâm hồn và khói óc. Dù làm gì, người ta vẫn dành một giá trị ưu tiên cho nơi ta thuộc về. Chúng ta có thể thấy điều này trong ngày Tết, dù đi xa đến mấy, người ta vẫn muốn trở về gia đình, về quê hương. Nếu vì hoàn cảnh không về được, thì tâm trí người ta luôn hướng tới, và có thể điện thoại hỏi thăm nhau…

Trong tâm tình tôn giáo, người con của Chúa cũng cần có cảm thức thuộc về Giáo hội, thuộc về Chúa. Sự thuộc về này được diễn tả bằng tình yêu và lòng tin tưởng vào Chúa, cũng như hành xử theo những nguyên tắc và nếp sống dựa theo lời Chúa dạy.

Tuy nhiên, có những lúc niềm tin bị thử thách. Người ta không thấy ánh sáng cho đời sống đạo, và có khi rơi vào sự tối tăm, khô khan nguội lạnh, cảm giác bị Chúa bỏ rơi. Tuy nhiên, chúng ta cần đi tới một kinh nghiệm về một Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta:

“Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau? Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ” (Is 49,15)

Thiên Chúa không bao giờ quên chúng ta. Đó là một hồng ân lớn lao. Tình Chúa dành cho chúng ta còn hơn cả tình mẫu tử. Chính nhờ tình yêu này mà chúng ta được thuộc về gia đình của Chúa.

Sự thuộc về này còn được tìm thấy trong cuộc đối thoại của Chúa Giê-su và người Do thái. Chúa Giê-su bị trách là phạm thượng khi gọi Thiên Chúa là Cha mình, và như thế là tự coi mình ngang hàng với Thiên Chúa (Ga 5,18). Nhờ Chúa Giê-su, chúng ta cũng được phúc gọi Thiên Chúa là Cha, và chúng ta trở nên con cái của Ngài. Chúng ta thuộc về gia đình của Chúa.

Chúa Giê-su thuộc về Cha, nên Ngài làm những điều Chúa Cha làm, Ngài giảng dạy điều Ngài đã nghe nơi Cha, Ngài trao ban sự sống cho chúng ta như chính Chúa Cha là nguồn của sự sống. Chúng ta thuộc về gia đình của Chúa, nên chúng ta cũng được mời gọi lắng nghe lời Chúa, thực hành lời Chúa. Được như vậy, chúng ta sẽ có sự sống nơi mình, và bước vào cõi sống đích thực nơi Thiên Chúa.

Sống tâm tình mùa chay, chúng ta hãy để lòng mình hướng về Chúa. Suy nghĩ xem trong hoàn cảnh cụ thể của mình, mình sẽ sống như thế nào để thực sự mình thuộc về Chúa. Hãy lắng nghe lòng mình và can đảm lên đường thực hành tiếng mời gọi ấy. Đó là con đường dẫn chúng ta tới Thiên Chúa là nguồn của sự sống đời ta.

Ngày 28. NƯỚC CHỮA LÀNH

Ca dao của người Việt có câu “nhất nước nhì phân tam cần tứ giống”. Để một cây phát triển được, điều kiện hàng đầu phải có nước. Nước là yếu tố làm nên sự sống. Lại nữa, có nhiều nơi người ta không thể sống được vì thiếu nước. Hãy nghĩ xem đời sống bị đảo lộn như thế nào khi mà khu dân cư chúng ta ở bị mất nước. Xét như vậy, chúng ta thấy nước thật là quan trọng.

Trong đời sống tôn giáo, nước còn có một ý nghĩa quan trọng hơn nữa. Chẳng hạn người Ấn Độ có nghi thức thanh tẩy ở sông Hằng. Với người Do thái, nước tẩy sạch bệnh phong cùi của viên tướng Naaman, người Syria; trước sứ vụ công khai của Chúa Giê-su, Gioan Baotixita làm phép rửa bằng nước tại sông Giordan để tha bỏ tội lỗi.

Ngôn sứ Edekien kể cho chúng ta câu chuyện ngài được thiên thần dẫn đi qua một suối nước, và khi trở lại, ngài thấy hai bên bờ suối có cây côi mọc xanh tươi tốt, có nhiều cá và các sinh vật khác, nước ấy chảy đến đâu thì nơi đó được nên trong lành và sự sống được phát triển. Nước có sức mạnh như vậy, bởi vì nguồn nước của suối này phát xuất từ đền thờ. (x. Ed. 47,1-9).

Tin mừng thánh Gioan cũng kể cho chúng ta về sức mạnh của nước tại hồ Betsaida. Theo đó, khi hồ nước động, người đầu tiên chạm vào nước đầu tiên sẽ được khỏi bệnh, cho dù bất cứ bệnh tình nào (x. Ga 5,1-3.5-16). Vì thế mà có rất đông người đau yếu, mù lòa, què quặt, bất toại. Họ nằm la liệt ở đó.

Trong số họ, có một người đau liệt đã ba mươi tám năm, những mong chờ nước động để xuống chạm vào, nhưng anh ta đã thất vọng, vì luôn có người xuống trước anh ta. 38 năm không phải là thời gian ngắn. Bệnh tình lâu như thế cho thấy anh sẽ không bao giờ được khỏi, và anh phải ở đó suốt đời.

Bệnh của anh có thể tượng trưng cho sự bất lực của con người. Tự sức mình, mình không có thể giải thoát mình được. Mỗi người chúng ta đều có những bệnh tật thể lý hoặc thiêng liêng, những thói hư tật xấu xem ra khó chữa, khó tránh khỏi. Có người cố gắng thoát ra mà không thoát được; lại có người vì bất lực mà sống chung với nó, coi như cuộc đời mình không may.

Tự sức mình, mình không có thể giải thoát mình được

Điểm cao trào xảy ra! Chúa Giê-su đến gặp người đau bại này và hỏi “Anh muốn được lành bệnh không?” Thoạt nhìn, câu hỏi này có vẻ dư thừa, vì nếu không muốn, sao anh lại kiên nhẫn ở lại đây. Tuy nhiên, câu hỏi này thật cần thiết để xác nhận một lần nữa lòng muốn khỏi bệnh của anh. Có nhiều người có bệnh mà không muốn được khỏi!

Trước ao ước được chữa lành của anh, Chúa Giê-su đã truyền lệnh: “Anh hãy đứng dậy, vác chõng mà về”. Tức khắc, anh ấy được lành bệnh và đi về…

“Anh hãy đứng dậy, vác chõng mà về”.

Đến như nước mà còn có khả năng chữa lành bệnh, nhất là nước ấy chảy từ đền thờ, hoặc nước ấy được thiên thần khuấy động, thế thì việc chữa lành của Chúa Giê-su còn mạnh thế hơn dường nào. Ngài không chỉ chữa lành bệnh tật thể lý, mà còn cả bệnh tật thiêng liêng. Ngài làm cho chúng ta trở nên sống động và nên trong lành.

Khi Chúa Giê-su chịu treo trên thập giá, một người lính đã lấy giáo đâm vào cạnh sườn Ngài, nước và máu trào ra. Nước ấy có sức mạnh biến đổi toàn thể thế giới thọ tạo của chúng ta và cho chúng ta được thông phần sự sống của Ngài.

Tin tưởng vào quyền năng chữa lành ấy, chúng ta hãy chạy đến với Ngài, tha thiết xin Ngài chữa lành những vết đau của chúng ta, dù đó là vết đau trên thân xác, hay vết đau trong tâm hồn. Và để được chữa lành cách triệt để, chúng ta được mời gọi bước vào con đường thánh thiện, chống lại cám dỗ của tội lỗi. Xin Chúa chữa lành chúng ta.