Đề tài 3. NÊN THÁNH

Khi nhìn ngắm đường phố, chúng ta có thể thấy dòng người xuôi ngược, mỗi người đang muốn đi tới đích của mình: có thể là về nhà, có thể là đi ăn uống, đi đón con… Mỗi người trong đám đông xuôi ngược đó đều có đích. Ngồi trong nhà thờ tham dự tĩnh tâm hôm nay, đâu là đích của tôi?

Vào tháng 4 năm 2018, ĐTC Phanxico đã công bố tông huấn Gaudete et Exultate (G.E – Vui mừng hân hoan). Tông huấn này mời gọi chúng ta hướng về cùng đích của chúng ta, đó là nên thánh. Lời mời gọi của tông huấn là một thách đố cho chúng ta trong giai đoạn mới này.

Lời mời gọi nên thánh

Nên thánh luôn là lệnh truyền của Thiên Chúa: “Các ngươi phải thánh thiện, vì Ta, Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi, Ta là Đấng Thánh” (Lv 19,2). Đức Giê-su đến kiện toàn Lề Luật xưa. Trong bài giảng khai mạc sứ vụ của Ngài, Ngài mời gọi chúng ta “nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48).

Công đồng Vaticano II nói rõ: “Được củng cố bởi rất nhiều phương tiện cứu rỗi lớn lao như thế, tất cả mọi tín hữu, bất kể ở điều kiện hay bậc sống nào đều được Chúa mời gọi – mỗi người theo cách của riêng mình – đến sự thánh thiện trọn lành như chính Cha trên trời là Đấng trọn lành” (G.E số 10).

Gương thánh thiện

Đức Thánh Cha Phanxico nêu ra các gương thánh thiện thời xưa, được thư gởi tín hữu Do thái đề cập trong chương 11, như các ông Abel, ông Kha-nốc, ông Nô-ê, ông Abraham, bà Sara, ông Isaac, ông Giuse, ông Mô-sê…. Họ kết thành các đám mây thánh thiện, họ nên thánh nhờ lòng tin vào Thiên Chúa và bước đi trong sự tín thác vào Ngài.

“Những chứng nhân này có thể bao gồm các bà mẹ, các bà nôi ngoại của chúng ta, hoặc những người thân yêu khác (2 Tm 1,5). Cuộc sống của họ không phải lúc nào cũng hoàn hảo, nhưng ngay cả giữa những lỗi lầm và thất bại của họ, họ vẫn tiếp tục tiến bước và tỏ ra rất đẹp lòng Chúa” (G.E, số 3)

“Tôi thích chiêm ngưỡng sự thánh thiện hiện diện trong các sự kiên nhẫn của dân Thiên Chúa: nơi những cha mẹ nuôi nấng con cái họ với tình thương yêu bao la, nơi những người nam nữ làm việc chăm chỉ để nuôi sống gia đình, nơi người bệnh tật, nơi các tu sĩ già cả mà không bao giờ mất nụ cười của họ” (G.E, số 7)

Cách thức sống thánh thiện

“Để nên thánh không buộc phải là một giám mục, một linh mục hay một tu sĩ…. Tất cả chúng ta đều được mời gọi nên thánh bằng cách sống cuộc đời với tình yêu và bằng cách làm chứng trong mọi công việc mình làm, ở bất cứ nơi nào mình sống… Hãy nên thánh bằng cách sống quyết tâm của mình với niềm vui.” Với người sống đời gia đình, nên thánh “bằng cách yêu thương và chăm sóc cho chồng hay vợ mình, như Đức Ki-tô đã chăm sóc cho Hội Thánh”. Với người đi làm, nên thánh “bằng cách làm việc với sự liêm chính”. Với người là ông là bà, nên thánh “bằng cách kiên nhẫn dạy dỗ con cháu theo Chúa Giê-su”. Với người cầm quyền, nên thánh “bằng cách làm việc cho công ích và từ bỏ lợi ích cá nhân” (x. G.E số 14).

ĐTC đưa ra một ví dụ cụ thể ở số 16: “một phụ nữ đi mua sắm, chị ấy gặp một người hàng xóm và họ bắt đầu nói chuyện, và việc bép xép bắt đầu. Nhưng chị ấy tự nhủ trong lòng: “không, tôi sẽ không nói xấu ai cả”. Đây là một bước tiến trong sự thánh thiện. Sau đó, ở nhà, một trong những đứa con của chị muốn nói chuyện với chị về những hy vọng và ước mơ của nó, và mặc dù mệt mỏi, chị ấy ngồi xuống và lắng nghe với sự kiên nhẫn và tình yêu. Đó là một sự hy sinh khác mang lại sự thánh thiện. Sau đó, chị trải qua một vài âu lo, nhưng nhớ lại tình yêu của Mẹ Maria, chị lấy tràng hạt ra và cầu nguyện bằng đức tin. Một con đường nên thánh khác. Rồi chị ra đường, gặp một người nghèo và dừng lại để nói một lời tử tế với người ấy. Thêm một bước nữa”. (G.E số 16)

ĐTC cũng trích gương thánh thiện của ĐHY Phanxico Xavier Nguyễn Văn Thuận: “Khi ĐHY F.x Nguyễn Văn Thuận bị tù, ngài đã không chịu lãng phí thì giờ chờ đợi ngày ngài được trả tự do. Thay vào đó, ngài đã chọn “sống giây phút hiện tại, và làm cho nó đầy tình thương”. Ngài quyết định: “Tôi sẽ nắm lấy những cơ hội hiện diện mỗi ngày; tôi sẽ hoàn thành các hành động bình thường một cách phi thường” (G.E số 17).

Với những trích dẫn trên, chúng ta thấy, nên thánh là một lệnh truyền, một lời mời gọi của Chúa cho tất cả chúng ta, dù ở trong bậc sống, hoàn cảnh sống nào. Có rất nhiều con đường nên thánh tùy thuộc vào mỗi người.

Chọn lựa sống tinh thần Tin Mừng

Điểm chung của nên thánh là phải chọn lựa. Để lựa chọn đúng, chúng ta luôn lấy đích nhắm là nên thánh. Và trong hoàn cảnh của riêng tôi, tôi phải làm cái gì, làm như thế nào, để đạt được đích nhắm đã vạch ra.

Ví như một người phụ nữ muốn giữ vóc dáng của mình, cô ấy phải chọn lựa thức ăn, khẩu phần ăn, chế độ tập tành như thế nào. Có những món ăn ngon, món thích thú, nhưng cô không dám ăn, vì nếu ăn vào sẽ mất dáng, cô đã chọn lựa. Hoặc có những thức ăn chua chát, không hấp dẫn cho khẩu vị, nhưng cô vẫn ăn, để đạt được mục tiêu đã đề ra. Đó là chọn lựa.

Để đạt được mục tiêu là đời sống thánh thiện, chúng ta phải luôn hướng về Chúa, tìm sức mạnh nơi Chúa, đồng thời cố gắng sống theo lời Chúa trong hoàn cảnh của riêng mình. Để được vậy, nhiều khi chúng ta phải bỏ qua những thú vui trần thế, những môi trường tội lỗi, những hoàn cảnh gây dịp tội…, đồng thời năng tập nhân đức, sống hy sinh, vị tha…

Nên thánh không phải chỉ dựa vào sức lực riêng của chúng ta. Điều thật hạnh phúc là Chúa mời gọi chúng ta đi vào con đường này và Ngài luôn trợ giúp chúng ta quan ân sủng của Giáo hội. Các lời giáo huấn của Giáo hội soi sáng cho chúng ta, các bí tích chữa lành và thêm sức cho chúng ta. Ơn Chúa vẫn tuôn đổ trên chúng ta. Chỉ cần chúng ta quyết tâm đi vào hành trình tiến về đích của đời Ki-tô hữu, Chúa sẽ đồng hành và trợ giúp chúng ta khi cần.

Lm. Giuse Trịnh Duy Suýt S.J

Đề tài 2. SÁM HỐI LÀ SỐNG ĐÚNG CĂN TÍNH

Căn tính thuộc về bản chất của một con người không thể thay đổi được. Căn tính là cái gì thuộc riêng về mỗi người, và làm nên điều khác biệt với người khác. Ví dụ như tôi là con của bố mẹ tôi, cái này không thể thay đổi được. Nó là điều thuộc riêng về tôi.

Đối với người tin vào Thiên Chúa, căn tính của con người hệ ở chỗ con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, và giống Thiên Chúa (St 1,27). Con người mang trong mình sinh khí của Thiên Chúa (St 2,7). Người Việt chúng ta nói “thở hắt ra” để nói về cái chết, thân xác dù mạnh khỏe tới đâu cũng trở nên bất động. Hơn nữa, với mặc khải nơi Đức Giê-su, chúng ta được phúc trở nên con cái Thiên Chúa. Bí tích rửa tội ghi dấu ấn mãi mãi trên cuộc đời ta, và không thể thay đổi được. Ngoài ra, đối với người sống trong bậc vợ chồng, bí tích hôn phối cũng làm cho vợ chồng mang căn tính mới, thuộc về nhau trọn đời.

Khi con người không sống đúng căn tính của mình, thì họ sẽ rơi vào tình trạng tội lỗi và tha hóa. Để biểu đạt điều này, chúng ta cùng trở về với trình thuật về tội của Adam và Eva, như khởi đầu của loài người.

Con người được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa, và mang trong mình sinh khí của Chúa. Họ được Chúa đặt vào vườn Ê-đen, là nơi hạnh phúc, nơi mà con người sống hòa thuận với thiên nhiên, nơi mà Thiên Chúa vẫn hiện đến đi dạo với con người, nơi mà mọi thứ cây trong vườn đó đều “trông thì đẹp, ăn thì ngon” (St 2,6). Nếu con người cứ sống như vậy, thì tình trạng hạnh phúc đó đã không bị mất.

Tuy nhiên, trong cái vườn hạnh phúc ấy lại có một luật cấm: cấm Adam và Eva ăn trái cây trường sinh và cây biết thiện ác; ngày nào ăn trái cây đó, ông bà sẽ phải chết. Có lẽ chúng ta muốn nơi khu vườn hạnh phúc ấy không có luật lệ gì nữa, con người muốn làm gì thì làm. Tuy nhiên, chúng ta không nên tưởng một nơi hạnh phúc mà không có luật lệ, bởi vì luật lệ bảo tồn và duy trì sự sống. Chúng ta có thể lấy ví dụ về giao thông, nếu người ta đi lại không theo luật lệ, ai muốn đi thế nào thì đi, thì không ai có thể đi được. Luật giao thông giúp người ta có thể lưu thông được. Hoặc ví dụ khác về luân lý, mọi nền văn hóa đều cấm sự loạn luân. Nếu không có sự cấm đoán này, thì không còn hình thức gia đình nữa, con người lúc ấy lại trở nên giống loài chó, loài gà, loài vật. Luật cấm làm cho con người có thể sống được.

Cây trường sinh và cây biết điều thiện ác ở giữa vườn là thuộc riêng về Thiên Chúa. Chỉ có Chúa là Đấng toàn hữu và toàn tri, là Đấng sáng tạo. Con người là thụ tạo được dựng nên, có giới hạn của thụ tạo. Hai cây ở giữa vườn trở nên biểu tượng của Thiên Chúa, và luật cấm như là ranh giới giữa Thiên Chúa và con người. Nếu con người giữ đúng ranh giới này, họ sẽ được sống. Nếu vi phạm ranh giới, con người sẽ phải chết.

Khi con người tin tưởng vào Thiên Chúa, thì tôn trọng luật cấm trên, nhưng khi thiếu tin tưởng, con người sẽ nghi ngờ tình thương của Thiên Chúa, và muốn loại trừ Thiên Chúa ra khỏi cuộc đời mình. Con người muốn làm chủ đời mình, muốn tách mình ra khỏi Thiên Chúa. Con người luôn bị cám dỗ vượt qua ranh giới trên.

Khi bị cám dỗ, người ta sẽ bị thu hút vào điều đang cám dỗ mình, chỉ thấy nó “trông thì đẹp, ăn thì ngon”, và không thấy điều xung quanh nữa. Eva bị cám dỗ vượt qua ranh giới, vì nghĩ rằng “trái cây này thật đáng quý, vì nó làm cho mình nên như những vị thần, biết điều thiện ác” (St 3,6). Tức là con người muốn đặt mình vào chính vị trí của Thiên Chúa.

Khi vượt qua ranh giới, con người nhận thấy sự thật phũ phàng: thấy mình trần truồng, xấu hổ, sợ hãi phải giáp mặt Đức Chúa. Hơn nữa, tương quan của họ bị đổ vỡ. Trước đây, Adam coi Eva là “xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi, nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì được rút ra từ đàn ông” (St 2,23), tương quan thuộc về nhau, và đầy thân thương. Nhưng khi phạm tội, tương quan thuộc về nhau không còn nữa. Adam không còn coi Eva được rút ra từ mình nữa, mà chỉ còn là “người nữ mà Chúa đặt ở với con” thôi (St 3,12). Xem ra Adam đã đổ lỗi cho cả Chúa.

Vì không sống đúng căn tính của mình, họ đã phải khám phá ra sự trần trụi của phận người, bị đẩy ra khỏi nơi của hòa thuận, để rơi vào nơi thống trị nhau, và đất đai cũng trở nên gai góc. Cuối cùng họ sẽ phải chết. Đó là hệ quả của tội, của việc vượt qua ranh giới, không sống đúng căn tính của mình.

Chúng ta có thể suy xét về căn tính của mỗi người chúng ta, để xem có khi nào chúng ta sống không đúng căn tính đó, và hậu quả như thế nào.

Là vợ chồng Ki-tô giáo, sự ràng buộc bởi lời thề hứa chung thủy trọn đời, trong bất cứ hoàn cảnh nào, làm thành căn tính của vợ chồng. Khi sống chung thủy như thế, họ sẽ phải giữ lời thề hứa, nhưng phần thưởng là hạnh phúc trong gia đình. Nếu một hoặc hai người vượt qua ranh giới, vi phạm lời thề hứa, sẽ gây ra đau khổ trong hôn nhân, và gia đình có nguy cơ bị phá vỡ.

Con cái phải thảo kính cha mẹ, và phụng dưỡng cha mẹ trong lúc tuổi già, chăm sóc cha mẹ lúc đau yếu. Sự thảo kính này ở điều răn thứ tư trong mười điều răn, và là điều răn đứng đầu trong các điều răn liên quan tới tương giao giữa người với người. Nếu con cái lỗi phạm điều răn này, không sống đúng căn tính là con cái, họ sẽ làm cha mẹ đau buồn.

Là linh mục, tu sĩ, lời khấn làm nên căn tính của đời tu. Nếu vượt qua ranh giới này, không giữ căn tính của đời tu, họ sẽ cảm thấy tội lỗi và bất an. Đời dâng hiến gặp nhiều đau khổ.

Là người con cái Thiên Chúa, nếu không liên kết với Chúa, và không sống theo điều Chúa dạy, họ sẽ mất phương hướng, và trở thành “con hoang”, thành con cái thế gian…

Sám hối là quay trở lại với căn tính của mình và sống đúng căn tính ấy. Để sống đúng căn tính này, con người phải tuân giữ giới răn liên quan tới đời sống của mình. Có lẽ họ sẽ cảm thấy nặng nề khi giữ luật và bị cám dỗ vượt ranh giới, nhưng khi can đảm chiến đấu để sống đúng căn tính, họ sẽ bị mất mát trước mắt, nhưng mất mát đó lại giúp họ có thể sống và sống trong tình trạng hạnh phúc thực sự.

Lm. Giuse Trịnh Duy Suýt S.J.

Đề tài 1. YÊU CHO ĐẾN CHẾT

Mùa chay là thời gian hồng ân đặc biệt, giúp người tín hữu suy niệm và đào sâu hành trình thương khó của Chúa Giê-su, để cảm nghiệm được tình yêu vô bờ của Thiên Chúa, nhằm cứu cứu độ loài người.

Cuộc thương khó cứu độ và phục sinh vinh quang của Chúa Giê-su phải đi qua con đường thập giá. Nhiều người cảm thấy khó kết hợp giữa sự toàn năng của Thiên Chúa và cái chết đầy nhục nhã của Con Ngài. Tuy nhiên, trong cái nhìn của tình yêu, chúng ta nhận thấy rằng cái chết của Chúa Giê-su là con đường tất yếu của tình yêu và để diễn tả tình yêu. Yêu là phải chết.

Để hiểu thêm điều này, chúng ta có thể suy niệm tên được báo trước của Chúa Giê-su Ki-tô. Ngài là Đấng Emmanuel – Thiên Chúa ở cùng chúng ta.

Để hiểu việc ở cùng này, chúng ta có thể lấy hình ảnh của tình yêu hôn nhân và gia đình, nhất là trong bối cảnh của năm phụng vụ 2019, Giáo hội Việt nam muốn đồng hành cùng các gia đình.

Khi hai người trẻ yêu nhau, biểu hiện đầu tiên của họ là muốn được ở cùng nhau. Mọi suy nghĩ của họ luôn hướng về nhau, muốn làm cho nhau được vui, được hạnh phúc. Nếu thời gian hoặc không gian không cho phép họ ở cùng nhau, họ sẽ luôn hướng về nhau trong tâm trí và sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại để sống mối tương quan ấy.

Vì yêu nhau và muốn ở cùng nhau, nên những người yêu nhau biết nhau cách sâu đậm. Họ biết và muốn chia sẻ với nhau những mơ ước, nhưng bận tâm, những khó khăn. Người này đón nhận những ước mơ, bận tâm và khó khăn của người kia như của mình, và muốn làm cho những ước mơ thành sự thật, còn những bận tâm và khó khăn được giải quyết.

Khi yêu nhau, họ không chỉ dừng lại ở việc quan tâm chăm sóc cho người yêu của mình, mà còn quan tâm tới tình trạng gia đình, bối cảnh văn hóa của người mình yêu nữa… Để làm được tất cả những điều đó, họ phải luôn hướng về người mình yêu, và chấp nhận hy sinh cho người ấy.

Thiên Chúa yêu chúng ta, Con của Ngài đã đến ở cùng chúng ta, ngài biết chúng ta và hy sinh tất cả vì chúng ta. Thánh Phao-lô tông đồ diễn tả điều này trong thư gởi tín hữu Philiphê:

‘Đức Giê-su Ki-tô, vốn dĩ là Thiên Chúa, mà Ngài không nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, và sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2, 6-8).

Sự hạ mình này đã thấy ngay trong tên của Ngài. Ngài là Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Ở cùng để chia sẻ thân phận con người với chúng ta, nên giống chúng ta mọi đàng, ngoại trừ tội lỗi. Ở cùng chúng ta để cho chúng ta tham dự vào bản tính thần thiêng của Ngài.

Vì yêu chúng ta, nên ngài thấu biết cõi lòng chúng ta. Ngài biết chúng ta cần gì trước khi chúng ta cầu xin ngài. Ngài biết cả những ước mơ trần thế của chúng ta để biến đổi. Ngài cảm thương nỗi vất vả đớn đau của những người đau khổ… Ngài trở thành Chiên Thiên Chúa chết thay cho cả nhân loại tội lỗi. Tất cả chỉ vì tình yêu.

Trước khi bước vào cuộc thương khó, Ngài đã lập chức linh mục. Linh mục là hiện thân của Chúa Giê-su, được lập nên để “làm chính những việc của Chúa đã làm khi còn ở trần gian”. Nhờ các linh mục, Chúa Giê-su tiếp tục ở lại cách hữu hình nơi cộng đoàn Giáo hội.

Sau khi phục sinh, Ngài ra lệnh truyền cho các môn đệ đi rao giảng, và Ngài nhấn mạnh “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”.

Tình yêu ở cùng là một tình yêu tự hiến hoàn toàn vì người mình yêu. Mỗi người ở trong chức phận của mình đều có thể có kinh nghiệm này:

Là mục tử, kinh nghiệm ở cùng và yêu cho đến chết khi người linh mục dành tất cả bận tâm, ưu tư và sức lực cho đoàn chiên được trao phó. Người mục tử đó “mang vào mình mùi chiên”, mang lấy những đau khổ và chờ đợi của đoàn chiên làm chờ đợi và đau khổ của mình, để “giảng dạy, tha thứ, yên ủi” đàn chiên và tế lễ thay cho đoàn chiên. Vì yêu đoàn chiên, nên linh mục tiêu hao đời mình cho đến chết.

Người sống đời gia đình có kinh nghiệm ở cùng khi chia sẻ với nhau những bận tâm, người này mang vào mình bận tâm của người kia: bận tâm về sức khỏe, về gia đình, về bố mẹ…, để rồi có thể cảm thông, chia sẻ và nâng đỡ. Khi lo lắng cho nhau như thế, người người này đã “chết vì yêu” cho người kia. Yêu là phải đi tới cái chết. Cũng vậy, cha mẹ yêu con cái, chăm lo điều tốt nhất cho con cái, nên đã chết cho con cái.

Thiên Chúa yêu thương ta, ở cùng ta, muốn chúng ta được sống, nên Ngài phải đi vào cái chết. Ngài chết không phải vì Ngài yếu, nhưng vì Ngài yêu. Cái chết biểu lộ sức mạnh của Ngài. Nhờ cái chết của ngài, chúng ta được giải thoát và bước vào sự sống, hạnh phúc đích thực.

Lm. Giuse Trịnh Duy Suýt S.J

Lời nói và hành động


Đọc Lời Chúa trong Tin Mừng Mt 23,1-12, tôi gặp đoạn Chúa Giêsu chỉ trích các Luật sĩ và đưa ra lời khuyên cho người nghe Ngài thế này: “Các Luật sĩ và các người biệt phái ngồi trên tòa Môsê: vậy những gì họ nói với các ngươi, hãy làm và tuân giữ, nhưng đừng noi theo hành vi của họ, vì họ nói mà không làm…”.

Trong văn hóa Việt, chúng ta thường nghe thấy câu: “miệng nam mô, bụng bồ dao găm”; hoặc “nói vậy mà không phải vậy”, hoặc “thùng rỗng kêu to”.

Trong cuộc sống, chúng ta gặp quá nhiều chuyện lời nói không đi đôi với việc làm, ngôn hành bất nhất. Có rất nhiều nguyên nhân gây nên tình trạng này. Tôi nhấn mạnh tới một nguyên nhân mà tôi cho là chính yếu, đó là tính quy kỷ, tức là quy hết về bản thân mình, với tất cả lợi danh của nó.

Để đánh bóng được cái nhãn hiệu, có được cái danh, người ta dùng lời nói phóng đại, văn hoa mỹ miều. Chúng ta có thể thấy nơi nghệ thuật dùng từ trong quảng cáo.

Để đạt được lợi ích cho mình, người ta có thể dùng nhiều cách thức, đôi khi là thủ đoạn lừa đảo, ném đá giấu tay, hoặc dùng ngôn từ với nhiều hàm ý để lợi dụng người nhẹ dạ cả tin.

Ngay cả một môn nghệ thuật mà nhiều sách đề cập tới, thậm chí người ta còn cho đó là một vốn kinh nghiệm sống được đề cao, đó là Đắc Nhân Tâm. Mục đích của nó cũng là lấy lòng người khác để đạt được lợi ích cho mình. Một áp dụng cụ thể được các chế độ dùng để lấy lòng dân, được khoác lên bộ áo “dân vận”, hoặc “mị dân”.

Vì vậy, giữa lời nói và việc làm có một khoảng cách rất lớn. Hơn nữa, giữa việc làm và suy nghĩ nội tâm chi phối hành động đó cũng có một khoảng cách. Khoảng cách đó lớn đến nỗi người ta không thể đo lường và dò thấu.

Tuy nhiên, dù có sâu xa thế nào, suy nghĩ của con người vẫn bị đối chất trước tiếng nói lương tâm, mà người ta thường nói “trời biết, mình biết”. Kinh nghiệm này được thánh vịnh 139, 2-4 đề cập tới :

“Lạy Chúa, Ngài dò xét con và ngài biết rõ,

biết cả khi con đứng con ngồi.

Con nghĩ tưởng gì, Ngài thấu suốt từ xa,

Đi lại hay nghỉ ngơi, Chúa đều xem xét.

Mọi nẻo đường con đi, Ngài quen thuộc cả.

Miệng lưỡi con chưa thốt lên lời,

thì lạy Chúa, Ngài đã am tường hết”

Sách Is 10,17 kêu gọi: “Các ngươi hãy tắm rửa, hãy thanh tẩy, đừng làm điều xấu nữa, hãy làm điều lành, hãy tìm kiếm công lý, hãy cứu giúp kẻ bị áp bức, hãy xét xử công bằng cho những trẻ mồ côi và bênh vực người góa bụa”.

Đứng trước một Thiên Chúa luôn biết rõ lòng ta, trước một lương tâm luôn chất vấn chính mình, và trước lời mời gọi thay đổi đời sống, loại trừ sự xấu trong hành động, chúng ta cần suy nghĩ tới đời sống hiện nay của chúng ta.

Vì khuynh hướng con người thường quy về mình, nên luôn có sự bất nhất trong hành động và lời nói. Tôi cần ra khỏi cái tôi ích kỷ đó và hướng tới người khác, để cho hành động của tôi thực sự đem đến niềm vui và sự sống cho mọi người, chứ không chỉ của riêng tôi. Có thế tôi mới có thể dần dần đi đến chỗ thống nhất đời mình, từ suy nghĩ tới hành động, từ đời sống nội tâm và cách biểu lộ ra bên ngoài.