Cái nhìn trong đức tin

 

Từ hai câu chuyện trong các bài đọc kinh thánh ngày thứ 6 tuần II mùa Chay – bài đọc 1 kể về câu chuyện Giuse được cha mình là Giacop thương cách đặc biệt, và vì thế,các anh của ông đã bán ông sang Ai Cập làm nô lệ (St 37, 3-28); bài đọc 2 kể về câu chuyện người con của chủ vườn đến thu hoa lợi, thì bị các tá điền sát hại (Mt 21,33-46) – tôi trích lại một lời trong Kinh thánh làm ý tưởng chủ đạo.

“Chính viên đá bọn thờ loại ra, đã trở nên viên đá góc; đó là việc Chúa làm và là việc lạ lùng trước mắt chúng ta”

Cuộc đời của Giuse bị anh em của ông loại bỏ vì ghét ông, vì ganh tỵ với ông khi ông được thương hơn. Các anh đã bán ông sang Ai cập làm nô lệ, vừa để cho khuất mắt, vừa được thỏa lòng ghen tỵ. Giuse đã chịu cảnh làm nô lệ, bị tù đày, nhưng sau đó, Chúa đã biến đổi cuộc đời ông, và được vua Ai cập đặt ông làm tể tướng, chỉ dưới quyền vua. Giuse đã cứu cả gia đình và dân tộc ông thoát khỏi nạn đói.

Cuộc đời của Giuse như là hình bóng của cuộc đời Đức Giêsu. Người con bị những tá điền giết chết trong câu chuyện mà thánh Matthêu kể lại là chính Đức Giêsu. Ngài được Thiên Chúa, Cha Ngài, sai đến với dân của Chúa, nhưng những nhà lãnh đạo dân ấy đã tìm cách bắt Ngài, loại trừ Ngài và giết Ngài, như họ đã từng giết các ngôn sứ. Nhưng chính cái chết của Đức Giê su lại trở nên nguồn ban ơn cứu độ cho dân Israel nói riêng và cho toàn thể nhân loại nói chung.

Thiên Chúa không bao giờ thua mưu kế gian ác của con người. Ngài có quyền biến hệ quả của sự dữ thành điều lành. Như có người nói, Ngài có thể vẽ đường thẳng từ những đường cong. Tin vào quyền năng của Chúa, chúng ta có quyền hy vọng. Cũng như Giuse chẳng làm gì nên tội, mà bị đối xử bất công; cũng như Giêsu hoàn toàn vô tội, mà lại bị giết chết; có thể chúng ta nhiều khi rơi vào hoàn cảnh bị đối xử bất công, bì làm hại, dù ta không sai lỗi, hoặc không làm điều gì ác.

Khi bị đối xử bất công, có người than thân trách phận, nhìn cuộc đời với mầu đen tối, đi tới chỗ tuyệt vọng. Người tín hữu, tin vào quyền năng Chúa, được mời gọi nhìn mọi biến cố trong cuộc đời mình bằng cái nhìn đức tin. Thay vì trách phận mình, trách hoàn cảnh, người tín hữu cần lắng nghe và chiêm nghiệm xem Chúa đang dạy bảo mình điều gì, và Chúa muốn dẫn đưa mình đi đâu từ những biến cố đó. Chúa luôn có thể dẫn ta tới điều tốt lành ngang qua những sóng gió thử thách.

Lòng ghen tương đố kỵ nơi các anh của Giuse, nơi các nhà lãnh đạo dân Israel thời Chúa Giêsu vẫn luôn tiềm tàng trong mỗi người chúng ta. Đứng trước những người thành công hơn mình, được ưu ái hơn mình, chúng ta có thể có chút chạnh lòng, hoặc ấm ức, so bì, đố kỵ…để rồi nhìn họ với cái nhìn thiếu thiện cảm, hoặc đi đến chỗ ghen ghét. Cái nhìn đó thuần túy chỉ quy vào chính mình. Kinh thánh còn kể câu chuyện Cain giết em mình là Abel, khi của lễ của Abel được nhận lời, còn của mình thì không.

Thánh Phaolô dạy phải “vui với người vui, khóc với người khóc”. Khóc với người khóc thì dễ, còn vui với người vui cần có cái nhìn đức tin. Nhìn mọi sự đều đến từ ân sủng của Chúa, và ân sủng được trao ban đó để xây dựng cuộc sống, để tiếp tục cộng tác vào công trình tác tạo của Chúa, chứ không phải là khả năng riêng của mình, để rồi so sánh, dẫn đến tự cao hay tự ti.

Chỉ khi chúng ta nhìn với cái nhìn của đức tin, chúng ta mới ra khỏi  sựhẹp hòi của lòng đố kỵ. Chỉ khi tin Chúa, ta mới có cái nhìn hy vọng trong mọi hoàn cảnh. Xin Chúa giúp chúng ta vững tin hơn, và đưa niềm tin vào trong cuộc sống, để chúng ta luôn được sống trong an vui và hy vọng.

Có đi có cần có lại?

Một ngày nọ, tôi đi dự một đám tang, và trong đầu tôi dấy lên nhiều suy nghĩ: Có lúc tôi nghĩ việc mình đến với người ta hôm nay, để sau này họ cũng đến với mình, hoặc mình đi đám nhằm có thêm tương quan cho dễ làm việc. Lúc ấy, tôi chẳng cảm thấy mình có chút đau buồn hay thương tiếc gì cho người đã chết, hoặc cảm thông cho người đang sống. Tính toán như thế làm con tim tôi thật trai cứng. Tính toán như thế làm cho việc tôi đi dự đám tang không chút ý nghĩa gì. Tôi nghĩ phải chăng mình cần xem lại cái nguyên tắc “có đi có lại”.

Câu châm ngôn “có đi có lại mới toại lòng nhau” được rất nhiều người áp dụng. Nó được coi như một nguyên tắc sống hàng ngày. Tuỳ theo hoàn cảnh, lứa tuổi mà việc thực hành này mang mầu sắc đặc trưng của nó:

Thời học sinh và sinh viên, một nhóm bạn rủ nhau đi ăn, hôm nay người này mời, lần sau người khác. Giả như có ai đó chưa mời bạn bè được thì áy náy, như thể mình không bằng bạn bằng bè.

Khi lớn lên, có những người đi ăn tiệc, dù là hiếu hay hỉ, nhiều khi phải đi để trả nợ, trả ơn, hoặc đi vì phải đi, chứ không hoàn toàn vì vui mừng đối với đám cưới hoặc buồn đau vì đám tang.

Nguyên tắc “có đi có lại” có lẽ diễn tả một lối sống công bằng và giúp cho người ta có những sự ràng buộc nào đó, để con người có thể sống chung được với nhau, và mỗi người phải có trách nhiệm cho sống chung. Tuy nhiên, kinh nghiệm cụ thể trên của riêng tôi làm tôi phải suy nghĩ khác: để việc mình làm là một sự cảm thông thực sự, thì sự chia sẻ và hiện diện của tôi phải trở nên một cái “cho đi” đích thực, phải “có đi” mà không cần “có lại”.

Là người có niềm tin và đối diện với Lời Chúa dạy: làm ơn mà không nghĩ tới việc đáp trả, “đừng cho tay trái biết việc tay phải làm”, một tình yêu vô vị lợi…, tôi càng suy nghĩ nhiều hơn. Có lẽ tôi đã để cho những châm ngôn sống của đời thường ảnh hưởng quá sâu vào tâm trí tôi và làm cho tôi không đủ nhậy bén trước nguyên tắc sống mới – nguyên tắc của đạo Chúa.

Tôi được mời gọi sống theo tinh thần yêu thương, “có đi” mà không cần “có lại”, để tôi thực sự là con Chúa. Điều này đòi tôi phải đặt niềm tin mạnh mẽ vào Chúa, vì nếu niềm tin yếu kém, tôi sẽ không dám cho đi hoàn toàn.Tin Chúa và phó thác đời mình cho Chúa, tôi sẽ không hoàn toàn đặt sự bảo đảm đời sống của tôi nơi của cải trần thế này, và tôi sẽ dám cho đi nhiều hơn nữa, và cho đi một cách vô vị lợi.