Đề tài 2. SÁM HỐI LÀ SỐNG ĐÚNG CĂN TÍNH

Căn tính thuộc về bản chất của một con người không thể thay đổi được. Căn tính là cái gì thuộc riêng về mỗi người, và làm nên điều khác biệt với người khác. Ví dụ như tôi là con của bố mẹ tôi, cái này không thể thay đổi được. Nó là điều thuộc riêng về tôi.

Đối với người tin vào Thiên Chúa, căn tính của con người hệ ở chỗ con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, và giống Thiên Chúa (St 1,27). Con người mang trong mình sinh khí của Thiên Chúa (St 2,7). Người Việt chúng ta nói “thở hắt ra” để nói về cái chết, thân xác dù mạnh khỏe tới đâu cũng trở nên bất động. Hơn nữa, với mặc khải nơi Đức Giê-su, chúng ta được phúc trở nên con cái Thiên Chúa. Bí tích rửa tội ghi dấu ấn mãi mãi trên cuộc đời ta, và không thể thay đổi được. Ngoài ra, đối với người sống trong bậc vợ chồng, bí tích hôn phối cũng làm cho vợ chồng mang căn tính mới, thuộc về nhau trọn đời.

Khi con người không sống đúng căn tính của mình, thì họ sẽ rơi vào tình trạng tội lỗi và tha hóa. Để biểu đạt điều này, chúng ta cùng trở về với trình thuật về tội của Adam và Eva, như khởi đầu của loài người.

Con người được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa, và mang trong mình sinh khí của Chúa. Họ được Chúa đặt vào vườn Ê-đen, là nơi hạnh phúc, nơi mà con người sống hòa thuận với thiên nhiên, nơi mà Thiên Chúa vẫn hiện đến đi dạo với con người, nơi mà mọi thứ cây trong vườn đó đều “trông thì đẹp, ăn thì ngon” (St 2,6). Nếu con người cứ sống như vậy, thì tình trạng hạnh phúc đó đã không bị mất.

Tuy nhiên, trong cái vườn hạnh phúc ấy lại có một luật cấm: cấm Adam và Eva ăn trái cây trường sinh và cây biết thiện ác; ngày nào ăn trái cây đó, ông bà sẽ phải chết. Có lẽ chúng ta muốn nơi khu vườn hạnh phúc ấy không có luật lệ gì nữa, con người muốn làm gì thì làm. Tuy nhiên, chúng ta không nên tưởng một nơi hạnh phúc mà không có luật lệ, bởi vì luật lệ bảo tồn và duy trì sự sống. Chúng ta có thể lấy ví dụ về giao thông, nếu người ta đi lại không theo luật lệ, ai muốn đi thế nào thì đi, thì không ai có thể đi được. Luật giao thông giúp người ta có thể lưu thông được. Hoặc ví dụ khác về luân lý, mọi nền văn hóa đều cấm sự loạn luân. Nếu không có sự cấm đoán này, thì không còn hình thức gia đình nữa, con người lúc ấy lại trở nên giống loài chó, loài gà, loài vật. Luật cấm làm cho con người có thể sống được.

Cây trường sinh và cây biết điều thiện ác ở giữa vườn là thuộc riêng về Thiên Chúa. Chỉ có Chúa là Đấng toàn hữu và toàn tri, là Đấng sáng tạo. Con người là thụ tạo được dựng nên, có giới hạn của thụ tạo. Hai cây ở giữa vườn trở nên biểu tượng của Thiên Chúa, và luật cấm như là ranh giới giữa Thiên Chúa và con người. Nếu con người giữ đúng ranh giới này, họ sẽ được sống. Nếu vi phạm ranh giới, con người sẽ phải chết.

Khi con người tin tưởng vào Thiên Chúa, thì tôn trọng luật cấm trên, nhưng khi thiếu tin tưởng, con người sẽ nghi ngờ tình thương của Thiên Chúa, và muốn loại trừ Thiên Chúa ra khỏi cuộc đời mình. Con người muốn làm chủ đời mình, muốn tách mình ra khỏi Thiên Chúa. Con người luôn bị cám dỗ vượt qua ranh giới trên.

Khi bị cám dỗ, người ta sẽ bị thu hút vào điều đang cám dỗ mình, chỉ thấy nó “trông thì đẹp, ăn thì ngon”, và không thấy điều xung quanh nữa. Eva bị cám dỗ vượt qua ranh giới, vì nghĩ rằng “trái cây này thật đáng quý, vì nó làm cho mình nên như những vị thần, biết điều thiện ác” (St 3,6). Tức là con người muốn đặt mình vào chính vị trí của Thiên Chúa.

Khi vượt qua ranh giới, con người nhận thấy sự thật phũ phàng: thấy mình trần truồng, xấu hổ, sợ hãi phải giáp mặt Đức Chúa. Hơn nữa, tương quan của họ bị đổ vỡ. Trước đây, Adam coi Eva là “xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi, nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì được rút ra từ đàn ông” (St 2,23), tương quan thuộc về nhau, và đầy thân thương. Nhưng khi phạm tội, tương quan thuộc về nhau không còn nữa. Adam không còn coi Eva được rút ra từ mình nữa, mà chỉ còn là “người nữ mà Chúa đặt ở với con” thôi (St 3,12). Xem ra Adam đã đổ lỗi cho cả Chúa.

Vì không sống đúng căn tính của mình, họ đã phải khám phá ra sự trần trụi của phận người, bị đẩy ra khỏi nơi của hòa thuận, để rơi vào nơi thống trị nhau, và đất đai cũng trở nên gai góc. Cuối cùng họ sẽ phải chết. Đó là hệ quả của tội, của việc vượt qua ranh giới, không sống đúng căn tính của mình.

Chúng ta có thể suy xét về căn tính của mỗi người chúng ta, để xem có khi nào chúng ta sống không đúng căn tính đó, và hậu quả như thế nào.

Là vợ chồng Ki-tô giáo, sự ràng buộc bởi lời thề hứa chung thủy trọn đời, trong bất cứ hoàn cảnh nào, làm thành căn tính của vợ chồng. Khi sống chung thủy như thế, họ sẽ phải giữ lời thề hứa, nhưng phần thưởng là hạnh phúc trong gia đình. Nếu một hoặc hai người vượt qua ranh giới, vi phạm lời thề hứa, sẽ gây ra đau khổ trong hôn nhân, và gia đình có nguy cơ bị phá vỡ.

Con cái phải thảo kính cha mẹ, và phụng dưỡng cha mẹ trong lúc tuổi già, chăm sóc cha mẹ lúc đau yếu. Sự thảo kính này ở điều răn thứ tư trong mười điều răn, và là điều răn đứng đầu trong các điều răn liên quan tới tương giao giữa người với người. Nếu con cái lỗi phạm điều răn này, không sống đúng căn tính là con cái, họ sẽ làm cha mẹ đau buồn.

Là linh mục, tu sĩ, lời khấn làm nên căn tính của đời tu. Nếu vượt qua ranh giới này, không giữ căn tính của đời tu, họ sẽ cảm thấy tội lỗi và bất an. Đời dâng hiến gặp nhiều đau khổ.

Là người con cái Thiên Chúa, nếu không liên kết với Chúa, và không sống theo điều Chúa dạy, họ sẽ mất phương hướng, và trở thành “con hoang”, thành con cái thế gian…

Sám hối là quay trở lại với căn tính của mình và sống đúng căn tính ấy. Để sống đúng căn tính này, con người phải tuân giữ giới răn liên quan tới đời sống của mình. Có lẽ họ sẽ cảm thấy nặng nề khi giữ luật và bị cám dỗ vượt ranh giới, nhưng khi can đảm chiến đấu để sống đúng căn tính, họ sẽ bị mất mát trước mắt, nhưng mất mát đó lại giúp họ có thể sống và sống trong tình trạng hạnh phúc thực sự.

Lm. Giuse Trịnh Duy Suýt S.J.

1 phản hồi

Leave a Comment.